GIÁO LÝ BAO ĐỒNG IV

CHƯƠNG TRÌNH THĂNG TIẾN THIẾU NHI THÁNH THỂ

CẤP III, NGÀNH NGHĨA

 

 

 

CUỐN GIÁO LÝ NÀY CỦA :

Em :……………………………………………………………………………………. ..

Sinh ngày :………………………………… tại :………………………………… ..

Rửa tội ngày :…………………………….. tại :……………..

Rước lễ lần đầu ngày :………………… tại :……………..

Thêm sức ngày :…………………………. tại :……………..

Tuyên xưng đức tin ngày :………………. tại :………………

Con ông :…………………………………………………………..

Và bà :………………………………………………………………………………… ..

Địa chỉ :………………………………………………………………………………. ..

Thuộc Giáo xứ:…………………………………………………………………… ..

 

 

 

 

 

 

MỤC LỤC

  1. Mạc khải 
  2. Lưu truyền mạc khải 
  3. Thánh truyền chứa đựng Lời Thiên Chúa 
  4. Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa 
  5. Ơn linh hứng 
  6. Chú giải Thánh Kinh 
  7. Lịch sử dân Israel 
  8. Ngũ Kinh 
  9. Các sách lịch sử 
  10. Các sách Ngôn sứ lớn 
  11. Các sách Ngôn sứ nhỏ
  12. Sách Giáo huấn 
  13. Tin Mừng 
  14. Sách Công vụ Tông đồ 
  15. Các thơ của Thánh Phaolô 
  16. Các thơ của Thánh Phaolô (tt) 
  17. Các thơ chung 
  18. Khải huyền 
  19. Vài lời khuyên giúp bạn đọc Kinh Thánh 
  20. Vài lời khuyên giúp bạn đọc Kinh Thánh 
  21. Nghi thức Bao Đồng 

———————————————————————————————————————————————————

Bài 1

MẠC KHẢI

Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa, thì thật là hiển nhiên trước mắt họ, vì chính Thiên Chúa đã cho họ thấy rõ. Quả vậy, những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người…                              (Rm 1,19-20)

  1. Bài học:

Thiên Chúa tạo dựng con người có linh hồn và thể xác. Linh hồn có hai tài năng: trí khôn và ý chí. Nhờ trí khôn con người giống Thiên Chúa. Đối tượng của trí khôn là chân lý, các chân lý trong lãnh vực tự nhiên và siêu nhiên (chân lý tôn giáo). Với điều kiện tự nhiên, con người có thể khám phá một vài chân lý tôn giáo như sự hiện hữu của Thiên Chúa, linh hồn bất tử,…

Ngoài những chân lý này, còn những chân lý mà chỉ Thiên Chúa mới biết và khi nào Người mạc khải chúng ta mới biết, thí dụ: các mầu nhiệm trong đạo. Ngay cả những chân lý tôn giáo mà trí khôn ta có thể khám phá, nếu Thiên Chúa không thêm ánh sáng vào thì con người có thể hiểu sai lệch.

Chính Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mạc khải mình và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý Ngài. Với tình thương chan chứa, Thiên Chúa vô hình ngỏ lời với loài người như với bạn hữu. Ngài đối thoại để mời gọi và đón nhận họ hiệp thông với Ngài. Nhờ đó, chân lý thâm sâu về Thiên Chúa cũng như về phần rỗi con người được sáng tỏ nơi Đức Kitô.

Công cuộc mạc khải được thực hiện bằng các hành động và lời nói liên kết mật thiết với nhau. Các hành động Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu độ bày tỏ, củng cố giáo lý và những điều được loan báo; còn lời nói công bố khai sáng các mầu nhiệm chứa đựng trong đó:

– Thiên Chúa tỏ mình cho tổ tông loài người. Sau khi họ sa ngã Ngài vẫn yêu thương nâng đỡ trong niềm hy vọng cứu rỗi.

– Thiên Chúa kêu gọi Abraham để qua ông, Ngài tạo lập một dân tộc lớn mạnh. Ngài dùng Môisen và các tiên tri dạy dỗ để dân nhận biết Ngài và hướng lòng về Đấng Cứu Thế.

– Chúa Giêsu Kitô đến bổ túc và hoàn tất mạc khải. Người là Lời Thiên Chúa “ở cùng chúng ta”, để giải thoát ta khỏi tội lỗi và sự chết, đưa chúng ta đến sự sống đời đời. Đức Kitô là Lời tối hậu của Thiên Chúa, như thế chúng ta không phải chờ đợi một mạc khải nào khác nữa.

  1. Cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin cho con thấy Chúa thật lớn lao, để đối với con, mọi sự khác trở thành bé nhỏ. Xin cho con biết Chúa thật bao la, để con hiểu rằng cả vũ trụ này cũng chưa vừa cho Chúa. Xin cho con hiểu Chúa thật thẳm sâu và gần gũi con hơn cả chính cõi lòng của con.

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. Mạc khải là gì?
  2. Thiên Chúa mạc khải cho ta biết về Ngài bằng những cách nào?
  3. Sinh hoạt:
  4. Phong trào: Ôn 10 điều luật Thiếu Nhi Thánh Thể.
  5. Trò chơi : Học nghề

Trưởng mời 3 em ra khỏi vòng tròn. Trưởng sẽ biểu diễn một động tác, và nói cho mọi người biết động tác đó ám chỉ nghề nào. Sau đó mời em A vào, Trưởng làm lại động tác đó nhưng không giải thích. Rồi mời em B vào, lần này em A sẽ làm cho em B xem động tác đó. sau cùng, mời em C vào, em B sẽ làm động tác đó cho em C coi. Trưởng sẽ hỏi 3 em A,B,C là đã học được nghề gì? Ai “học” hay “dạy” sai sẽ bị phạt lò cò… Có thể thi đua theo đội.

  1. Chuyên môn : Cứu thương

“Ai là anh em với người bị nạn ?” …Kẻ đã xử nhân nghĩa với người ấy”. Chúa Giêsu đáp:“Cả ông nữa, hãy đi và làm như thế”. Đọc xong bài Tin Mừng người Samaria nhân hậu, tôi thấy những đức tính mà người cứu thương phải có :

  1. Lòng chạnh thương đối với người bị nạn.
  2. Quên mình vì đồng loại xấu số và giúp đỡ đến cùng.
  3. Hiểu biết về cấp cứu.
  4. Bình tĩnh trước mọi tình huống xảy ra.
  5. Can đảm, sáng suốt, biết đắn đo trước những tình huống và dám dấn thân.

Cứu thương đúng cách sẽ giúp cho việc điều trị của bác sĩ được dễ dàng và hiệu quả. Giúp nạn nhân bớt đau đớn và tránh tử vong. Nếu cấp cứu không đúng cách có thể làm tổn thương thêm cho người bị nạn. (Theo thống kê: công nhân được huấn luyện cứu thương sẽ bớt được 50% tai nạn tại xí nghiệp).

Vậy người cứu thương biết phải làm gì và không làm gì khi gặp tai nạn xảy ra.

  1. Để người bị thương nằm thoải mái, đầu và mình bằng nhau. Phải khám nghiệm nạn nhân để biết vết thương nặng hay nhẹ trước khi giúp họ ngồi dậy hay đứng lên.
  2. Tìm xem có xuất huyết, ngừng thở, phỏng, gãy xương, trật khớp… Phải quan sát kỹ vết thương và điều trị đúng cách. Nếu nạn nhân ngừng thở phải hô hấp nhân tạo. Giúp nạn nhân thở lại rồi mới tiến hành những việc băng bó và sơ cứu khác.
  3. Cho người báo cảnh sát, bác sĩ hay xe hồng thập tự.
  4. Giữ bình tĩnh và đừng vội di dời người bị thương nếu không thật cần thiết, tránh làm vết thương thành nặng hơn.
  5. Không bao giờ cho người bất tỉnh uống nước hay các chất lỏng nào khác.
  6. Làm cho nạn nhân được thông thoáng, tiện nghi bao nhiêu có thể. Đừng để người xem bu đông quanh nạn nhân.
  7. Đừng để nạn nhân thấy vết thương của mình hay biết tình trạng vết thương của họ. Biết an ủi, khích lệ, tránh để nạn nhân hoảng hốt, lo sợ.

Tóm lại: Cứu thương là điều trị tạm thời nhưng rất quan trọng. Cách sơ cứu tuy đơn giản và mau lẹ nhưng an toàn hợp vệ sinh để khi bác sĩ đến sẽ không mất nhiều thời giờ sửa lại những sai lỗi y tế căn bản. Khi bác sĩ bắt đầu việc điều trị, nhiệm vụ người cứu thương chấm dứt.

———————————————————————————————————————————————————

Bài 2

LƯU TRUYỀN MẠC KHẢI

Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này, còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà anh em được sự sống nhờ Danh Người.                                                  (Ga 20,30-31)

  1. Bài học

– Thiên Chúa mạc khải để cứu độ con người. Vì thế mạc khải này cần được loan báo cho muôn dân; và Thiên Chúa đã ân cần sắp đặt để mạc khải ấy luôn được bảo toàn và lưu truyền nguyên vẹn cho mọi thế hệ.

– Toàn bộ mạc khải của Thiên Chúa tối cao được hoàn tất nơi Chúa Kitô. Sau khi thực hiện

và công bố Tin Mừng đã được các ngôn sứ tiên báo, Chúa Kitô ra lệnh cho các Tông đồ rao giảng Tin Mừng cho mọi người. Tin mừng ấy là nguồn mạch của toàn bộ chân lý cứu độ và của mọi quy luật luân lý, đồng thời ban phát cho họ những hồng ân của Thiên Chúa.

– Theo mệnh lệnh của Chúa, việc lưu truyền Tin Mừng được thực hiện bằng hai cách:

. Bằng truyền khẩu: “Bằng lời rao giảng, bằng gương mẫu và các định chế, các Tông đồ truyền lại những điều đã học được từ chính miệng Đức Kitô khi sống chung với Người và thấy Người xử sự hoặc những điều các ngài đã được Thánh Thần gợi hứng. Để Tin Mừng luôn được gìn giữ nguyên vẹn và sống động trong Hội thánh, các Tông đồ đã đặt các giám mục làm người kế nhiệm, và trao cho họ trách nhiệm giáo huấn của các ngài”.

. Bằng ghi chép: những lời giảng dạy của các Tông đồ được  ghi lại trong các sách linh hứng, được bảo tồn và liên tục lưu truyền cho đến tận thế.

Như vậy, mạc khải được lưu truyền trọn vẹn cho con người qua Thánh kinh và Thánh truyền.

– Thánh truyền và Thánh kinh liên kết và hỗ trợ mật thiết cho nhau, vì cả hai phát xuất từ một nguồn mạch duy nhất là Thiên Chúa, và làm nên một kho tàng đức tin duy nhất. Vì thế, cả Thánh kinh và Thánh truyền phải được đón nhận, tôn kính bằng một tâm tình yêu mến và kính trọng như nhau.

  1. Cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin cho con quả tim của Chúa, để con đừng khép lại trên anh em và trên chính mình con. Xin cho con quảng đại như Chúa, vươn lên cao, vượt mọi tình cảm tầm thường để mặc lấy tâm tình bao dung, tha thứ của Chúa.

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. Thánh Kinh và Thánh truyền, thứ nào quan trọng hơn, vì sao ?
  2. Bạn hãy so sánh: Thánh Kinh và Thánh truyền giống và khác nhau ở những điểm nào ?
  3. Sinh hoạt:
  4. Phong trào: KHẨU HIỆU NGÀNH NGHĨ SĨ THÁNH THỂ

Khẩu hiệu ngành nghĩa sĩ là Chinh Phục, dẫn các em vào cuộc chiến đấu, lột xác cam go đầy hứng thú trước cuộc đời đang mở ra. Em nghĩa sĩ nỗ lực chiến thắng chính mình, chiến thắng tính ích kỷ, lười biếng, nhát đảm để rèn luyện mình thành chiến sĩ Chúa Kitô, nhờ đó em sẽ chinh phục được lòng tin, sự quí mến và lòng tín nhiệm nơi những người xung quanh. Mẫu người lý tưởng của nghĩa sĩ là thánh Phaolô quả cảm và can trường trong “cuộc chiến chính nghĩa”.

Nghĩa sĩ hướng nhiều về những hoạt động có tính xã hội hơn là vui chơi, qua đó giáo dục các em nên bạn thân của Chúa Kitô giữa chợ đời. Nhận ra khuôn mặt Chúa Kitô nơi người đau khổ.

  1. Trò chơi: Hiệp sĩ đấu kiếm

Trưởng chia các em thành số đội chẵn để có thể đấu với nhau. Mỗi đội cử một tướng và một phó tướng. Tướng cầm một gậy trên có đặt một cái nón. Cứ hai đội đấu với nhau. Tướng mỗi đội chào nhau và đấu. chỉ dùng gậy và nón của mình để hất nón đối phương rớt xuống. Nếu tướng bị hất rớt nón: thua, phó tướng thay để đấu hiệp hai. Nếu thua nữa, cả đội phải cõng đội thắng một vòng quanh sân thi đấu.

* Chú ý: không được dùng tay để hất nón đối phương. Phải chơi trung thực, hòa nhã.

  1. Chuyên môn: Hô hấp nhân tạo

Các tế bào trong con người rất cần dưỡng khí, nếu thiếu dưỡng khí trong vài phút chúng có thể chết. Các tế bào bị tổn hại vì thiếu dưỡng khí trong các trường hợp sau:

– Không khí có ít dưỡng khí như khi xuống giếng hoặc hố sâu không thoáng gió, những người leo núi quá cao, các phi hành gia.

– Khi khí quản bị nghẹt, không khí không vào phổi được như trường hợp thắt cổ, ngộp hơi, chết đuối và một vài trường hợp nhiễm khí độc.

– Khi tim không bơm đủ máu qua huyết quản như trường hợp xuất huyết, nghẹt tim.

– Khi động tác thở điều hòa quá ít hay quá yếu do tế bào của hệ hô hấp trung khu trong óc bị tê liệt, hoặc đường thần kinh đến các bắp thịt hô hấp bị nghẹt như trường hợp chết vì rượu, thuốc mê, thuốc ngủ… Trong trường hợp bị gẫy cổ, bị điện giật, bị đập mạnh vào đầu (tai nạn xe, đánh nhau…).

Phương cách duy nhất để cứu họ là hô hấp nhân tạo.

  1. Phương pháp đè lưng và nhấc cánh tay:
  2. Đặt nạn nhân nằm sấp và đứng ngang mình họ, lòn tay dưới bụng nạn nhân xốc lên để tháo nước dư, vật lạ trong khí quản và phổi ra. Giữ độ nửa phút, rồi thả nạn nhân xuống để đầu nghiêng và gối trên hai bàn tay xấp lại với nhau.
  3. Trong khi ấy nhờ người phụ tháo bỏ quần áo bó mình nạn nhân, lấy mền hay vải phủ lên để họ khỏi bị nhiễm lạnh.
  4. Người làm hô hấp nhân tạo quỳ ở phía đầu nạn nhân, đăt hai bàn tay trên lưng họ, hai ngón tay cái đụng nhau, lòng bàn tay đặt giữa đường chạy hai nách nạn nhân (xem hình).
  5. Từ từ nhón về phía trước, cánh tay thẳng, đè trên lưng nạn nhân (đếm 1,2 theo nhịp đồng hồ) động tác này để tống hơi ra.
  6. Từ từ lùi về phía sau, hai tay nắm cùi chỏ nạn nhân kéo về phía mình, đếm 3. Tiếp tục cho đến khi thấy sức trì kéo của vai nạn nhân, đếm 4,5. Động tác này để nạn nhân hít vào.
  7. Buông hai tay xuống, đếm 6. Làm vậy là trọn một chu kỳ. Mỗi phút ta phải làm 12 chu kỳ như vậy.

Tùy nạn nhân lớn hay nhỏ, nam hay nữ mà ấn mạnh hay nhẹ trên lưng.                                                                    (còn tiếp)

 

———————————————————————————————————————————————————

Bài 3

THÁNH TRUYỀN
CHỨA ĐỰNG LỜI THIÊN CHÚA

Hỡi anh em là những kẻ được Chúa yêu mến, chúng tôi phải luôn tạ ơn Thiên Chúa về anh em, vì Thiên Chúa đã chọn anh em ngay từ lúc khởi đầu, để cứu độ anh em nhờ Thần khí thánh hóa và nhờ lòng tin vào chân lý. Chính vì thế mà Người đã dùng Tin Mừng chúng tôi loan báo mà kêu gọi anh em, để anh em được hưởng vinh quang của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô. Vậy thưa anh em, anh em hãy đứng vững và nắm giữ các truyền thống chúng tôi đã dạy cho anh em, bằng lời nói hay bằng thư từ.                                                            (2Th 2,13-15)

  1. Bài học:

Các Tông đồ đã chung sống với Chúa Kitô, đã nghe Người giảng dạy, nhìn thấy Người hành động, đã gặp gỡ Chúa Kitô Phục Sinh, đồng thời nhờ ơn trợ giúp của Chúa Thánh Thần, các ngài hiểu biết thêm các mầu nhiệm Chúa Kitô.

Mạc khải ấy đã được các Tông đồ truyền lại qua lời giảng dạy, qua cuộc sống gương mẫu cũng như qua thể chế mà các ngài thiết lập trong Hội thánh. Sau đó, một phần được chính các ngài hay những phụ tá của các ngài viết lại dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần.

Các Tông đồ khuyến cáo những tín hữu phải giữ gìn truyền thống họ đã học biết (2Th 2,15) và phải chiến đấu để bảo vệ đức tin đã lãnh nhận (Gđ 3). Các Tông đồ đã đặt những người kế vị các ngài là các Giám mục, trao lại cho họ quyền giáo huấn. Nhờ đó, toàn bộ mạc khải được giữ gìn toàn vẹn và sống động mãi trong Hội thánh.

Dưới tác động của Chúa Thánh Thần, Thánh truyền được tiến triển trong lịch sử Giáo hội, không phải về bản chất nhưng về mặt hiểu biết. Nhờ chiêm ngắm, suy niệm và học hỏi lời Chúa của các nhà thần học, nhờ ơn Chúa Thánh Thần soi dẫn, nhờ lời giảng dạy của hàng giáo phẩm; Thánh truyền được hiểu biết ngày càng thấu đáo hơn.

Thánh truyền được diễn tả ở đâu ?

. trong các tác phẩm của Giáo phụ.

. trong những kinh nguyện xa xưa của Hội thánh.

. trong những đền đài, lăng tẩm, nơi những hang toại đạo.

. trong những văn kiện của Công đồng và của các GiáoHoàng

. trong những hình thức đạo đức hay tôn chỉ thiêng liêng đã được toàn Hội thánh chấp nhận từ sơ khai.

Phải phân biệt “Truyền thống” các Tông đồ với các “Truyền thống” thuộc diện thần học, kỷ luật, phụng vụ,… những truyền thống này tạo nên những hình thức đặc thù, qua đó, Thánh truyền thu nhận những lối diễn tả thích nghi cho những nơi và những thời kỳ khác nhau. Chính trong ánh sáng truyền thống các Tông đồ mà những truyền thống này được giữ lại, sửa đổi hay bị loại bỏ theo sự hướng dẫn của Huấn quyền Hội thánh.

  1. Cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin ban sức sống thần linh cho chúng con. Xin cho cuộc đời Kitô hữu của chúng con đừng rơi vào sự đơn điệu nghèo nàn, vào những lối mòn quen thuộc, nhưng xin canh tân và tái tạo chúng con mỗi ngày. Xin nuôi chúng con bằng tình yêu của Chúa, cho chúng con khám phá ra những chiều sâu khôn dò của Đức Kitô và ý nghĩa thâm thúy của Tin Mừng.

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. “Thánh truyền được hiểu biết ngày càng thấu đáo hơn” nghĩa là thế nào?
  2. Bạn hãy cho một vài thí dụ để phân biệt “Truyền thống các Tông đồ” và truyền thống thuộc diện Kỷ luật, phụng vụ trong Hội thánh?
  3. Sinh hoạt:
  4. Phong trào: TINH THẦN ĐỘI

Một đoàn quân trang bị tối tân và đầy đủ mà không có tinh thần chiến đấu là võ trang cho địch quân. Vì thế phải làm sao có tinh thần đội vững mạnh, bằng cách:

+ Nêu cao uy tín đội, tình huynh đệ gắn bó trong đội. Mỗi việc ta làm, mỗi lời nói đều có ảnh hưởng đến người khác nên phải chú trọng kỷ luật, danh dự và lòng hướng thượng

+ Mọi việc có tổ chức, bầu khí vui vẻ, tín nhiệm nhau: đội như là gia đình nỗ lực xây dựng tình thân trong đội.

+ Khi lỗi lầm mà được góp ý phải vui lòng sửa đổi. Khi được phân công phải tích cực thi hành. Lòng ganh tỵ và kiêu hãnh phá hư mọi sự. Thắng không kiêu, bại không nản” chỉ có tinh thần thi đua và tư cách thi đua mới đáng kể.

  1. Trò chơi : Sói – Súng – Người

Cho các em đứng vòng tròn. Luật chơi: Sói sợ súng, súng thua người, người sợ sói. Sói sẽ làm động tác đưa hai tay lên ngang tai vẫy vẫy làm tai sói. Súng đưa hai ngón tay chỉa thẳng vào người đối diện hô: “Đùng”- Người: đứng khoanh tay.

Khi chơi, trưởng sẽ đến đứng trước bất kỳ em nào, làm động tác của Sói hay Súng. Rồi tùy đó, em đó sẽ làm động tác của phần hơn. Ví dụ: Trưởng đưa hai tay lên tai vẫy; em đối diện phải là “Súng” và hô “Đùng”. Nếu trưởng là “Súng”, em đó là “Người”.

  1. Chuyên môn: Hô hấp nhân tạo  (tiếp theo)
  2. Phương pháp miệng truyền miệng:

Phương pháp này rất hiệu nghiệm nhưng người cứu thương có thể thấy khó chịu, buồn nôn vì hơi và vật thực từ bao tử nạn nhân trào ra. Có thể dùng khăn tay mỏng phủ lên miệng nạn nhân trước khi đặt môi ta lên. Phương pháp này được thực hiện như sau :

  1. Để nạn nhân nằm ngửa, lấy ngón tay móc sạch mọi vật thể lạ ra khỏi miệng nạn nhân.

 

  1. Để một tay dưới cổ và nâng đầu lên. Dùng tay kia giữ đỉnh đầu và đẩy ngửa ra càng xa càng tốt.
  2. Nâng cằm lên để đầu ngửa ra hoàn toàn.
  3. Kê sát môi ta vào môi nạn nhân, bịt mũi họ lại rồi thổi thật mạnh để ngực họ phồng lên.
  4. Bỏ ra, lắng nghe hơi thở nạn nhân thoát ra. Nếu không thấy hơi thở thoát ra phải kiểm soát lại vị trí đầu và cằm nạn nhân, có thể lưỡi họ thụt vào nên bít đường thông hơi của khí quản, phải kéo lưỡi ra.
  5. Nếu thổi lại mà hơi vẫn không vào, nên nghiêng nạn nhân qua một bên rồi vỗ mạnh vài cái vào giữa hai vai họ để tống vật lạ ra. Nếu nạn nhân là em bé nên ôm ngang bụng, để đầu thòng xuống rồi vỗ mạnh vào vai.
  6. Tiếp tục thổi: cứ 5 giây một lần.
  7. Nếu nạn nhân hồi tỉnh, thở đều, không nên cho nạn nhân ngồi dậy sớm quá vì sẽ bất tỉnh trở lại rất nguy hiểm.
  8. Cho mời bác sĩ hoặc xe cứu thương.

* Lưu ý :

– Trong mọi trường hợp, đừng ngưng làm hô hấp nhân tạo sớm quá. Có nhiều trường hợp, sau hơn 2 hoặc 3 giờ làm hô hấp như vậy nạn nhân mới tỉnh dậy.

– Nên kết hợp hai phương pháp: đè ngực (lưng), nhấc cánh tay và miệng truyền miệng hiệu quả sẽ cao hơn.

 

 

———————————————————————————————————————————————————

Bài 4

LỜI CHÚA

Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ, nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người là Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của Thiên Chúa. Người là Đấng dùng Lời quyền năng của mình mà duy trì tạo vật.    (Dt 1,1-3)

  1. Bài học:

Trong sự tự hạ đầy nhân hậu, Thiên Chúa đã dùng ngôn ngữ của loài người để tỏ mình cho loài người. Như thế, lời Thiên Chúa được diễn tả bằng ngôn ngữ loài người, đã nên giống như ngôn ngữ của loài người. Cũng như Ngôi Lời của Chúa Cha đã nên giống con người chúng ta khi mặc lấy sự yếu đuối của xác thịt chúng ta.

Kho tàng Lời Chúa gồm có Thánh Kinh và Thánh Truyền.

– Thánh Kinh là Lời Chúa được ghi chép lại dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần và được Hội thánh công nhận.

– Thánh Truyền chứa đựng Lời mà Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần ủy thác cho các Tông đồ, các ngài lưu truyền toàn vẹn cho những người kế nhiệm và nhờ Chúa Thánh Thần gìn giữ, soisáng các ngài trung thành trình bày và phổ biến cho các tín hữu qua lời rao giảng, qua tổ chức của Hội Thánh, qua nếp sống đạo…

Thánh Kinh gồm hai phần: Cựu ước và Tân ước.

– Cựu ước là “Giao ước cũ”, chỉ việc Thiên Chúa kết ước với Israel qua trung gian là ông Môisen trên núi Sinai. Bộ sách gồm 46 cuốn; mục đích là để chuẩn bị Israel đón nhận lời hứa cứu độ.

– Tân ước là “Giao ước mới”, chỉ việc Đức Giêsu kết ước với toàn thể nhân loại bằng chính máu của Người trong biến cố tử nạn và Phục sinh. Bộ sách gồm 27 cuốn; mục đích là rao giảng Đức Giêsu Kitô Đấng cứu chuộc loài người.

Cựu ước và Tân ước liên kết chặt chẽ với nhau như lời Thánh Augustinô: “Tân ước tiềm ẩn trong Cựu ước và Cựu ước trở nên sáng tỏ nhờ Tân ước”. Do đó, học hỏi Cựu ước giúp ta hiểu Tân ước hơn và khi nghiên cứu Tân ước thì ta mới hiểu được ý nghĩa sâu xa của Cựu ước.

Thánh Kinh được viết bằng ba ngôn ngữ chính: Hipri, Aram, Hy Lạp… Phần lớn Cựu ước được viết bằng tiếng Hipri; tiếng Aram chỉ được sử dụng trong ít phần của vài cuốn sách (Esdra, Đaniel,…); tiếng Hy Lạp được sử dụng trong hầu hết các sách Tân ước. Muốn hiểu ý nghĩa Kinh Thánh phải am tường các loại thể văn trong Thánh Kinh. Mỗi thể văn có cách thể hiện và diễn tả chân lý khác nhau. Ta có thể tóm tắt ít loại như: thể văn lịch sử (Giosuê, Thủ lãnh, Tin Mừng, Công vụ…), thể văn pháp luật (Lêvi, Đệ nhị luật), thể văn Tiên tri (Isaia, Ezékiel, Đaniel), thể văn Thi ca, thơ tín (Thánh vịnh, Diễm tình ca, thơ Thánh Phaolô), thể văn Giáo dục (Khôn ngoan, Châm ngôn, Huấn ca), thể văn Khải huyền.

  1. Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu, chúng con hiểu rằng con đường dài nhất là con đường từ tai đến tay. Chúng con thường chỉ biết thích thú nghe Lời Chúa dạy, nhưng lại không dám đem ra thực hành, chúng con đã “xây nhà trên cát”. Chính vì thế, Lời Chúa chẳng sinh hoa kết trái nơi chúng con.

Xin cho chúng con đừng hời hợt khi nghe Lời Chúa, đừng để các đam mê làm Lời Chúa trở nên xa lạ đối với chúng con.

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. Thánh Kinh là sách viết bằng ngôn ngữ của con người sao gọi là Lời Chúa?
  2. “Tân ước tiềm ẩn trong Cựu ước và Cựu ước trở nên sáng tỏ nhờ Tân ước”, bạn hiểu điều này thế nào? Cho thí dụ?
  3. Sinh hoạt:
  4. Trò chơi : Thi đua cứu trợ

Trưởng kể về một cuộc thiên tai (bão lụt, động đất…) và nạn nhân đang chờ sự hỗ trợ của các em. Các em có bổn phận phải cung cấp tất cả những gì họ cần.

Bắt đầu chơi, trưởng nói: “Tôi cần đôi giầy”, và sau 2 giây thổi còi hiệu. Khi hô xong, đội nào tìm được thì đem lên nộp cho trưởng. Sau lệnh còi thì không nhận quà. Tiếp tục, hô các vật liệu khác (tùy cơ hội, tùy môi trường…). Cuối cùng, đội nào cứu trợ được nhiều sẽ thắng cuộc.

  1. Chuyên môn: Hộp cứu thương cho đội

Khi đi trại, mỗi đội nên có hộp cứu thương đề phòng khi bất trắc vì phần nhiều chỗ cắm trại xa nơi ở của dân chúng, không có tiệm thuốc tây, do vậy hộp cứu thương trở nên rất quan trọng.

Hộp cứu thương là một cái vali nhỏ bằng nhôm hoặc bằng gỗ, sơn trắng và vẽ chữ thập đỏ là xong.

Để tiện dùng cho cả đội, trên mỗi chai, mỗi hộp thuốc phải dán tên thuốc rõ ràng và dùng để chữa bệnh gì, kẻo nhức đầu xổ mũi lại uống thuốc đau bụng thì khốn.

Trang bị hộp cứu thương gồm các vật liệu sau:

  1. Thuốc sát trùng:

Ether, alcool 900, Teinture d’iode, thuốc đỏ, nước Oxy già (l’eau oxygénée), bột Sulfaide, nước xà bông phisohex (chọn 1 trong 3 thứ)

  1. Vật liệu băng bó:

– Băng keo: cuộn lớn, cuộn nhỏ (1 phân, 2 phân).

– Băng keo miếng (1 hộp), 3 cuộn băng vải, 2 băng thung.

– 1 gói bông loại hút nước (bông cotton).

– 1 cái kéo, 1 gói kim khâu nhỏ, 1 cái kẹp, 1 hộp dao lam, 1 cái nhíp, 1 kéo panh.

  1. Vài loại thuốc và dụng cụ khác:

– 1 chai dầu gió. 1 ống đo nhiệt.

– 1 tupe dầu Vaseline để trị phỏng.

– 1 hộp Vaseline đặc.

– 1 hộp Bicarbonate de soude.

– 1 hộp thuốc tiêu chảy. Vài loại thuốc cảm.

– 1 túi (bằng nhựa hay cao su) đựng nước đá khi cần chườm.

– 1 ống nhỏ giọt, muỗng café để đong thuốc.

– 1 cuốn sổ ghi địa chỉ cấp cứu khi cần thiết.

———————————————————————————————————————————————————

Bài 5

ƠN LINH HỨNG

Như đã chép: “Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người”. Còn chúng ta đã được Thiên Chúa mạc khải cho, nhờ Thần khí. Thật vậy, Thần khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa. Vậy ai trong loài người biết được những gì nơi con người, nếu không phải là thần trí của con người trong con người? Cũng thế, không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa nếu không phải là Thần khí của Thiên Chúa. Để nói về những điều đó, chúng tôi không dùng những lời lẽ học được nơi trí khôn của loài người, nhưng dùng những lời lẽ học được nơi Thần khí; chúng tôi dùng những lời lẽ Thần khí linh hứng để diễn tả thực tại thuộc về Thần khí.                     (1Cr 2,9-11.13)

  1. Bài học

– Thánh kinh là Lời Thiên Chúa, những gì Thiên Chúa mạc khải mà Thánh Kinh chứa đựng và trình bày đều được viết ra dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên Thánh Kinh cũng là lời nhân loại: được viết bằng ngôn ngữ nhân loại, vào một thời điểm lịch sử xác định, do những con người cụ thể với cá tính cụ thể, riêng biệt. Kinh Thánh là lời Thiên Chúa trong ngôn ngữ loài người.

– Thiên Chúa là tác giả chính còn các Thánh ký là những tác giả phụ, là những cộng tác viên của Người:

. Thiên Chúa tác động trên trí tuệ và ý chí của các Thánh ký. Soi sáng để các ngài quan niệm đúng điều phải viết, viết những điều vượt tầm hiểu biết tự nhiên của các ngài. Thiên Chúa tác động trên ý chí: thúc giục các ngài viết và chỉ viết những gì Người muốn thôi.

. Thiên Chúa tôn trọng tính khí, trình độ hiểu biết của các Thánh ký nhưng không chước miễn cho các ngài công tác chuẩn bị, tra cứu như bất cứ soạn giả nào.

– Các Thánh ký không viết theo Thánh Thần như học trò viết theo thầy giáo đọc chính tả. Thực sự các Thánh ký cũng là tác giả, đã để lại trong tác phẩm những đặc tính riêng biệt của các ngài. Các Thánh ký dùng khả năng Chúa ban và quan niệm đương thời để diễn tả ý nhiệm mầu của Thiên Chúa, để tuyên xưng quyền năng và sự khôn ngoan của Người. Vì thế: “Phải công nhận rằng Kinh thánh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm những chân lý mà Thiên Chúa muốn ghi lại trong Kinh Thánh vì phần rỗi chúng ta” (MK 11)

Qua nhiều hình thức văn chương, tác giả muốn dạy chúng ta những bài học về giáo lý. Điều tác giả muốn khẳng định chính là bài học này chứ không phải là những hình ảnh được dùng trong các thí dụ. Như vậy, trong Thánh kinh, Thiên Chúa nói với con người theo cách thức loài người.

Để giải nghĩa Thánh kinh cho đúng phải cẩn thận tìm hiểu điều các Thánh ký thật sự có ý trình bày và điều Thiên Chúa muốn diễn tả qua lời lẽ của họ. Phải lưu ý đến nội dung và sự thống nhất của toàn bộ Kinh Thánh. Phải dựa trên truyền thống sống động của toàn thể Hội Thánh. Phải quan tâm đến ‘sự tương hợp của đức tin’ nghĩa là sự nối kết giữa các chân lý đức tin với nhau và với toàn bộ kế hoạch của Thiên Chúa. (MK 12)

  1. Cầu nguyện:

Lạy Đấng thường hằng bất biến, xin đừng để bất cứ điều gì khuấy động sự bình an của lòng con, hay làm con xa khỏi Chúa; nhưng ước chi mỗi phút giây sống trên trần thế này lại đưa con tiến sâu hơn vào mầu nhiệm tình yêu của Chúa.

Xin làm cho hồn con hân hoan và thanh thản, xin biến hồn con thành chốn trời cao, thành nơi cư ngụ dấu yêu của Chúa và là nơi Chúa nghỉ ngơi.   (Chân phước Elisabeth de Trinité)

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. Các Thánh ký là những người viết các sách Thánh Kinh, sao lại gọi Thiên Chúa là tác giả chính?
  2. Trong các trình thuật Thánh kinh, có nhiều chỗ sái khoa học, như vậy phải chăng Thánh kinh không có giá trị?
  3. Sinh hoạt:
  4. Phong trào: PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THIẾU NHI THÁNH THỂ

+ Phong trào dùng 2 phương pháp tự nhiên và siêu nhiên. Dùng những hoạt động tự nhiên của con người và những khung cảnh thiên nhiên thuận lợi thấm nhuần tinh thần Thánh Kinh để giáo dục.

+ Phương pháp vui mà học, học mà vui: Thông qua trò chơi, chuyện kể, bài hát, vũ điệu, chuyên môn trại … các em học được nhiều điếu bổ ích.

+ Phương pháp hàng đội tự trị: giúp trẻ tự quản, giúp nhau tự giáo dục, xây dựng ý thức kỷ luật chung và chịu trách nhiệm.

  1. Trò chơi : “Kết thân nụ cười”

Đứng vòng tròn. Trưởng hô: “Ha” và chỉ bất kỳ em nào; em đó hô tiếp: “Ha, ha”. Em kế tiếp bên phải hô tiếp thêm một chữ “ha”; tiếp tục theo vòng tròn. Ai hô sai, hay cười không hô được sẽ bị phạt loại khỏi vòng. (Có thể đổi chữ : hu, hic, hì…)

  1. Chuyên môn: Phỏng

Trong sinh hoạt hằng ngày, do vô ý thường để xảy ra những trường hợp bị phỏng. Những nguyên nhân gây phỏng thường thấy nhất là: phỏng do nhiệt, do hóa chất, do điện giật.

  1. Phỏng do nhiệt.
  2. Nhiệt khô: lửa, tia lửa điện, kim loại nóng chảy,…
  3. Nhiệt ướt: nước sôi, dầu mỡ sôi, thức ăn nóng sôi, hơi nước nóng,…

* Chữa trị: cách ly nguồn nhiệt, cởi bỏ phần quần áo cháy hay bị ngấm nước, dầu sôi.

Ngâm chỗ bị phỏng vào nước lạnh ngay để giảm đau, giảm nhanh nhiệt độ nơi bị phỏng, giảm viêm và phù, giảm thoát dịch huyết tương. Sau đó băng ép chặt vừa mức vùng bị phỏng để hạn chế sự phát triển của nốt phồng.

  1. Phỏng do Acid.

* Chữa trị: cởi bỏ phần quần áo dính acid, phải dùng vòi nước lạnh sạch cho chảy lên vùng phỏng để hòa loãng acid trong khoảng 10-15 phút. Sau đó dùng thuốc trung hòa acid như: Natri bicarbonat 10-20%, nước xà bông, có thể dùng bột phấn viết, kem đánh răng xoa lên chỗ bị phỏng.

  1. Phỏng do nhựa đường lỏng.

Đây là trường hợp phỏng nhiệt, chất nhựa đường dính vào da làm khó khăn cho việc chẩn đoán sự tổn thương của da và ảnh hưởng đến sự bài tiết của da.

* Chữa trị: dùng gạc (compresse) tẩm hỗn hợp dầu thảo mộc (dầu ăn) 3 phần, dầu hôi 1 phần để lau sạch nhựa đường. Trước hết phải lau sạch vùng mặt và vùng ngực, sau đến các phầnkhác

  1. Phỏng do điện giật.

Cắt nguồn điện để cứu người bị nạn khỏi chết vì điện, hô hấp nhân tạo ngay nếu tim nạn nhân ngừng đập, giúp thở bằng phương pháp hô hấp nhân tạo. Có điều kiện dùng thuốc trợ tim, kích thích hô hấp. Khi nạn nhân đã thở được mới chữa phỏng và chuyển tới bệnh viện.

Tóm lại: người bị phỏng có thể nguy đến tính mạng khi diện tích phỏng chiếm hơn 30% thân thể. Người bị phỏng nặng thường bị sốt, nếu không đưa đi bệnh viện gấp có thể thiệt mạng oan. Chỉ chữa trị tại chỗ khi vết phỏng nhỏ.

Một kinh nghiệm thực tế thường dùng khi đi trại: nấu nướng bị phỏng nhẹ mà không cháy da (nắm vào nồi cơm nóng, vật kim khí nóng, lửa xém vào tay) da chỉ bị đỏ lên, bạn chỉ việc lấy nước xà bông đặc xoa lên vết phỏng, cam đoan khỏi nhức liền.

———————————————————————————————————————————————————

Bài 6

CHÚ GIẢI THÁNH KINH

Chúa Giêsu nói với ông Nicôđêmô rằng: “Tôi bảo thật ông: chúng tôi nói những điều chúng tôi biết. Chúng tôi làm chứng về những điều chúng tôi đã thấy, nhưng các ông không nhận lời chứng của chúng tôi. Nếu tôi nói với các ông về những chuyện dưới đất mà các ông không tin, thì giả như tôi nói với các ông về những chuyện trên trời làm sao các ông tin được? Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống. Như ông Môisen đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời.             (Ga 3,11-15)

  1. Bài học

Tiếp cận với bản văn Kinh thánh, người đọc có thể thấy:

+ Có nhiều đoạn Thánh kinh đọc lên ai cũng hiểu ngay.

   Vd: Abraham tế lễ con là Isaac, Chúa chữa 10 người phong hủi.

+ Có nhiều đoạn, muốn hiểu, phải có ý hướng ngay lành, có lòng trung thực muốn nên tốt. Vd: những biến cố lịch sử, những bài học luân lý.

+ Có nhiều điều khó hiểu, nếu không được các nhà chuyên môn giải thích. Vì những lý do:

– vì là chân lý siêu việt vượt tầm hiểu biết tự nhiên.

– vì là những biến cố xảy ra mà không ai chứng kiến được, thí dụ : việc tạo dựng, ý định của Thiên Chúa…

– vì là những chân lý được diễn tả bằng ngôn ngữ và hình ảnh xa xưa của nhiều nền văn hóa cổ đại, mà với chúng ta ngày nay, thật khó hiểu. Muốn hiểu phải trở về nguồn ngôn ngữ và tìm lại hoàn cảnh xã hội, văn hóa thời ấy.

+ Bản văn Thánh Kinh có hai ý nghĩa: nghĩa văn tự và nghĩa thiêng liêng.

– Nghĩa văn tự: tư tưởng thể hiện qua câu văn,                            

     vd: Môisen đúc một con rắn đồng treo lên…

– Nghĩa thiêng liêng: được chia làm 3 loại.

. nghĩa ẩn dụ: chỉ có thể hiểu thấu đáo các biến cố bằng cách nhận ra ý nghĩa của nó trong Đức Kitô. Vd: vượt qua Biển Đỏ là tiền trưng cuộc chiến thắng của Đức Kitô, cũng là tiền trưng của phép thánh tẩy; rắn đồng trong sa mạc;…

. nghĩa luân lý: các biến cố được viết ra để răn dạy chúng ta.

. nghĩa thần bí: ta đọc được ý nghĩa vĩnh cửu của các thực tại và biến cố khi chúng hướng ta về quê trời. Vd: Hội thánh dưới đất là dấu chỉ Giêrusalem trên trời.

Câu thơ thời trung cổ tóm tắt:

Nghĩa văn tự dạy về biến cố,

Nghĩa ẩn dụ dạy điều phải tin.

Nghĩa luân lý dạy điều phải làm.

Nghĩa thần bí dạy điều phải vươn tới.

+ Muốn hiểu ý nghĩa Kinh Thánh phải am tường các loại thể văn trong Thánh Kinh. Mỗi thể văn có cách thể hiện và diễn tả chân lý khác nhau. Ta có thể tóm tắt ít loại như:

– thể văn lịch sử (Giosuê, Thủ lãnh, Tin Mừng, Công vụ… ).

– thể văn pháp luật (Lêvi, Đệ nhị luật).

– thể văn Tiên tri (Isaia, Ezékiel, Đaniel).

– thể văn Thi ca, thơ tín (Thánh vịnh, Diễm tình ca, các thơ Thánh Phaolô).

– thể văn Giáo dục (Khôn ngoan, Châm ngôn, Huấn ca).

– thể văn Khải huyền.

+ Người chú giải Thánh Kinh có nhiệm vụ nỗ lực tìm hiểu và trình bày ý nghĩa Thánh Kinh cách sâu rộng hơn. Ngoài ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, còn phải theo một số quy luật dưới sự hướng dẫn của quyền giáo huấn của Hội thánh. Đừng quên rằng mọi điều liên hệ đến việc giải thích Thánh Kinh cuối cùng đều phải tùy thuộc vào phán quyết của Hội thánh. Vì Hội thánh được Thiên Chúa giao phó cho sứ mạng và chức vụ gìn giữ và giải thích Lời Chúa.

+ Công đồng Vaticanô II đưa ra 3 tiêu chuẩn để giải thích Thánh Kinh:

– Phải hết sức chú ý đến “nội dung và tính thống nhất của toàn bộ Thánh Kinh”: các sách Thánh, dù có khác biệt nhau mấy đi chăng nữa vẫn là một do tính duy nhất của chương trình Thiên Chúa mà Đức Kitô là trung tâm và là trái tim.

– Phải đọc Thánh Kinh trong “truyền thống sống động của toàn thể Hội thánh”: Thánh Kinh phải được đọc chủ yếu trong con tim Hội Thánh hơn là trên những vật liệu dùng để viết Thánh Kinh. Hội thánh giữ trong truyền thống mình ký ức sống động của Lời Thiên Chúa và chính Thánh Thần giải thích cho Hội thánh ý nghĩa thiêng liêng của Thánh Kinh.

– Phải lưu ý đến “tính loại suy đức tin” là sự liên kết chặt chẽ giữa các chân lý đức tin với nhau và trong toàn bộ chương trình mạc khải.

  1. Câu hỏi thảo luận:
  2. Khi chú giải Thánh Kinh ta phải lưu ý những điểm nào?
  3. Quyền Giáo huấn của Hội thánh là quyền gì? Quyền này có lớn hơn Thánh Kinh không?

III. Sinh hoạt:

  1. Trò chơi : Chim đổi lồng

Tập họp vòng tròn. Chia các em thành tốp 3 em. Cứ hai em hai bên đan tay vào nhau giơ lên cao khỏi đầu làm lồng. Em đứng giữa làm chim. Em bị lẻ đứng trong vòng tròn (không có lồng). khi trưởng thổi còi, các chim phải bay đi tìm lồng khác. Em bị lẻ ngoài cũng phải kiếm cho mình một cái lồng. Chim nào chậm chân không kiếm được lồng sẽ làm chim lạc bầy và đứng ra giữa. Trò chơi tiếp tục.

  1. Chuyên môn: BỊ Chó, mèo cắn

Hãy dùng vòi nước rửa vết thương độ 5 phút để cho nước miếng của con vật trôi đi. Sau đó lấy một miếng gạc nhúng nước và xát xà bông vào, chà qua lại trên vết thương thật nhiều và làm nhiều lần. Rồi rửa lại trên vòi nước và băng vết thương lại. Sau đó, đưa đến trạm y tế ngay để bác sĩ ngừa bệnh dại hay phong đòn gánh cho nạn nhân. Cố tìm cách bắt cho được con vật cắn (hoặc trình cảnh sát bắt nếu chó, mèo của người khác). Sau đó đưa con vật tới viện Pasteur khám nghiệm. Nếu con vật chạy mất thì chính nạn nhân phải đến viện Pasteur chích ngừa.

                                         Đạp đinh sắt, kẽm gai

Vết thương đâm sâu này thường làm độc trong thịt và vi trùng có thể theo cây đinh, chỗ bị đâm, vào cơ thể. Hãy nặn ngay cho bớt máu, sau đó rửa vết thương bằng thuốc sát trùng và băng vết thương lại. Nếu bị nhức nhiều, hãy đắp nước đá lên chỗ bị thương. Để phòng ngừa phong đòn gánh hãy đi chích ngừa, đừng xem thường kẻo sốt cong người, chết oan mạng.

———————————————————————————————————————————————————

Bài 7

LỊCH SỬ DÂN ISRAEL

Nếu ở giữa anh em xuất hiện một ngôn sứ hay kẻ chuyên nghề chiêm bao và nó báo trước cho anh em một dấu lạ hay một điềm thiêng, nếu dấu lạ hay điềm thiêng nó đã nói xảy ra, và nó bảo: “Chúng ta hãy theo và phụng thờ các thần khác”…anh em đừng nghe lời của ngôn sứ hay kẻ chuyên nghề chiêm bao ấy. Vì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em thử thách anh em, cho biết anh em có yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em hết lòng, hết dạ không?  Ngôn sứ hay kẻ chuyên nghề chiêm bao ấy sẽ bị xử tử, vì nó đã hô hào nổi loạn chống Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em. Đấng đã đưa anh em ra khỏi đất Ai Cập, và đã chuộc anh em khỏi cảnh nô lệ, và vì nó muốn lôi cuốn anh em ra khỏi con đường Đức Chúa đã truyền cho anh em phải đi: Anh em phải khử trừ sự gian ác không cho tồn tại giữa anh em.   (Đnl 13,2-6)

  1. Bài học:

Thiên Chúa không tỏ bày cho con người biết Ngài một cách đột ngột, bất ngờ nhưng từng bước theo thời gian, từng giai đoạn, nơi lịch sử dân Israel. Học biết được những thời kỳ chính của lịch sử này sẽ giúp ta hiểu rõ Thánh Kinh hơn.

Có thể tóm lược lịch sử đó:

– Abraham: năm 1850 trước Công

nguyên, Abraham rời thành Ur xứ Candes theo tiếng gọi của Giavê Thiên Chúa. Đến Canaan. Abraham lập nghiệp, sinh con. Khoảng năm 1780, vì nạn đói, gia đình Giacop sang Ai Cập giao kết với người Hyksos, ở đây họ sống no đủ, hạnh phúc. Nhưng khi người Hyksos tan rã, Israel bị bắt làm nô lệ cho Ai Cập.

– Môisen: Dân khổ cực, kêu than đến Chúa. Khoảng năm 1250 trước Công nguyên, Chúa sai Môisen đến với dân và ông yêu cầu Pharaon để cho dân về đất hứa. Cuộc vượt qua Biển Đỏ đánh dấu bước chuyển biến mới của dân Chúa. Công trình này được Giosuê và các thủ lãnh Israel hoàn thành.

– Đavid: Khi đã định cư trong đất Chúa hứa, Israel tổ chức xã hội theo chế độ quân chủ. Vị vua đầu tiên là Saolê, vị danh tiếng và lớn nhất là vua Đavid, vua Salomon nổi tiếng về sự khôn ngoan. Đây là thời hoàng kim, Israel xuất hiện như một quốc gia lớn: có vua, có thủ đô, có đền thờ…

– Phân tranh: sau khi Salomon băng hà (931 trước Công nguyên), 10 bộ lạc miền Bắc đã ly khai, lập nên vương quốc Israel, chọn thủ đô là Samaria. Miền Nam gồm 2 chi tộc Benjamin và Giuđa là vương quốc Giuđa có Giêrusalem là thủ đô, do con cháu vua Đavid cai trị. Các Ngôn sứ xuất hiện. Miền Bắc sớm suy sụp vì thờ tà thần, thối nát. Năm 721 TCN, thủ đô Samaria bị người Assyri tàn phá. Năm 587 TCN, vua Nabucodonosor phong tỏa Giêrusalem, bắt dân đi lưu đày Babylon.

– Lưu đày: dân Israel bị lưu đày ở Babylon năm 70 TCN. Đây là thời kỳ gian khổ, khó khăn nhưng giúp họ suy nghĩ, sám hối. Thời kỳ này được coi như then chốt và phong phú nhất của Israel. Họ tìm lại được ý nghĩa đích thực sứ mệnh của mình. Phần lớn các văn bản Thánh Kinh được viết trong thời kỳ này.

– Tái thiết: năm 538 Kirô, vua Ba Tư trả lại tự do cho người Israel; được hồi hương, họ hăng hái giốc công tái thiết quốc gia và phục hưng lề luật Chúa.

– Bách hại: liên tiếp dưới ách đô hộ của các đế quốc Ba Tư, Hy Lạp, La Mã nhiều người Do Thái bỏ đạo sống theo lối dân ngoại. Dòng họ Macabê đã nổi dậy kháng cự và chịu chết vì đạo.

– Chúa Giêsu: Đức Giêsu xuất hiện, niềm hy vọng của cả nhân loại, Ngài gồm tóm nơi mình tất cả lịch sử Israel. Ngài làm cho nhân loại nên Israel mới trong Hội thánh.

  1. Cầu nguyện: (có thể dùng làm kinh sáng mỗi ngày)

Lạy Chúa, một ngày mới đang mở ra trước mắt chúng con. Mỗi ngày là một điều bất ngờ, con không biết rõ những gì sẽ xảy đến cho con; nhưng con biết chắc mình đang được sống trong vòng tay yêu thương của Chúa, nên con thấy vui tươi và bình an.

Xin cho con nhận ra rằng: mỗi niềm vui, mỗi nỗi buồn, cả thành công hay thất bại, đều là quà tặng của Tình Yêu, và là cơ hội đưa con đến gần Chúa hơn.

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. Người Israel nhận ra đâu là nguyên nhân cũa sự phát triển hay suy vong của lịch sử Israel?
  2. Vì lý do gì mà Israel được Thiên Chúa tuyển chọn làm dân riêng?
  3. Sinh hoạt:
  4. Phong trào: LỜI HỨA THIẾU NHI THÁNH THỂ

Thiếu Nhi Thánh Thể không có một lời hứa chung nào khác ngoài việc giữ theo tôn chỉ: Cầu nguyện, Rước lễ, Hy sinh, Làm tông đồ. Nhưng có lời hứa riêng cho mỗi đơn vị. Là Nghĩa sĩ, bạn đã hứa: Tìm hiểu, yêu mến và phụng sự Chúa suốt đời. Hứa trung thành với Đức tin. Hứa làm chứng nhân cho Chúa trước mặt mọi người.

Để thi hành lời hứa, bạn phải sống Thánh lễ mỗi ngày. Nỗ lực để chiến thắng chính mình: thắng tính ích kỷ, lười biếng, nhát đảm,… để rèn mình thành chiến sĩ Chúa Kitô.

  1. Trò chơi : Chim đổi lồng (tiếp theo)

Cách chơi giống như bài trước. Lần này, xác định rõ từng lồng chim phải thay đổi. Nếu sau lệnh còi, chim nào không tìm được lồng sẽ bị loại khỏi cuộc chơi, và “lồng của chim đó” cùng với “chim mới” trong lồng bị ra làm “chim không tổ”. Như vậy, càng lúc, số chim không tổ sẽ nhiều, số lồng ít đi. Cuối cùng xem “chim” nào nhanh và tài giỏi nhất. Có thể thi đua tranh tài  trong tinh thần đoàn kết.

  1. Chuyên môn : Rắn cắn

Rắn độc cắn người là để tự vệ, thông thường rắn cố tránh xa con người để khỏi bị hại. Đôi khi có những con rắn nằm sẵn bên vệ đường để đợi mồi, chúng có thể cắn người nào đến gần hay đạp phải chúng. 60% vết rắn cắn là ở bàn chân và bắp chân, còn lại nhiều trường hợp khác là ở bàn tay hay cánh tay. Rất hiếm khi ở trên mình hay ở đầu.

Nơi đất trại có nhiều cây cối rậm rạp và cỏ cao ta nên cẩn thận đề phòng. Phải để ý kỹ chỗ ta sẽ bước chân vào, nơi đưa bàn tay đến cũng như chỗ ta sẽ ngồi. Đi trong rừng hay trong đồng ruộng nên đi giầy cao cổ và quấn ghết quanh ống chân, mặc áo tay dài và rộng, đeo bao tay bằng da.

* Triệu chứng khi bị rắn cắn:

. Triệu chứng sẽ xảy ra nặng hay nhẹ tùy theo từng loại rắn, có nọc độc nhiều hay ít, mạnh hay yếu…

. Cảm thấy rất đau nhức khi bị rắn cắn.

. Vết thương sưng lớn mau lẹ và tím bầm, thường thấy rõ hai vết răng, đôi khi chỉ trông thấy một vết.

* Khi nọc độc thấm vào cơ thể, các kết quả thông thường bắt đầu xảy ra:

. Người bải hoải, mắt lờ đờ. Hơi thở ngắn, sây sẩm mặt mày.

. Mạch yếu và mau. Nôn mửa, sùi bọt mép.

. Bất tỉnh hay nửa tỉnh nửa mê.

Nếu rắn cắn trúng huyết quản và nọc rắn đã thấm vào máu thì các triệu chứng trên xảy ra rất mau và có thể mất mạng trong vài phút. Tuy vậy, trong hầu hết các trường hợp, nọc rắn thấm khá chậm, nạn nhân có thể cảm nhận được mức độ lan truyền của nọc độc  (còn tiếp).

———————————————————————————————————————————————————

Bài 8

NGŨ KINH

Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước.

Thiên Chúa phán:”Phải có ánh sáng”. Liền có ánh sáng. Thiên Chúa thấy rằng ánh sáng tốt đẹp. Thiên Chúa phân rẽ ánh sáng và bóng tối. Thiên Chúa gọi ánh sáng là “ngày”, bóng tối là “đêm”. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất.

(St 1,1-5)

  1. Bài học

– Ngũ kinh hay Tora nghĩa là “luật”, là 5 cuốn sách đầu tiên trong bộ Thánh Kinh: Sáng thế, Xuất hành, Lêvi, Dân số, Đệ nhị luật; được cấu tạo do bốn truyền thống Giavit, Elohit, D và P. Môisen được coi là tác giả của Ngũ kinh. Không phải ông viết từng hàng, từng chữ của tập sách này, nhưng tập sách này đã chịu ảnh hưởng sâu xa của Môisen, và những phần căn bản là do tư tưởng của ông.

Sách Sáng thế chia làm hai phần:

. Phần I: từ chương 1-11:  Nguồn gốc vũ trụ và nhân loại. Trình bày lòng tin vào Thiên Chúa là Đấng sáng tạo, Đấng làm chủ thế giới, vạn vật. Con người được dựng nên trong tương quan với Thiên Chúa và với đồng loại.

. Phần II từ chương 12-50: lịch sử các tổ phụ.

– Sách Xuất hành: thuật lại lý do và cách thức dân Do Thái được giải thoát khỏi nước Ai cập, thời kỳ sa mạc và Giao ước Sinai, Giavê Thiên Chúa đã chọn Israel làm dân riêng, Người luôn ngự giữa dân và sẵn sàng cứu thoát dân Người.

– Sách Lêvi: là sách do dòng họ tư tế viết đặc biệt về việc thờ tự và hàng tư tế (lễ nghi, hiến tế, vai trò của hàng tư tế, luật sạch và dơ, luật thánh thiện).

– Sách Dân số: ghi lại những cuộc kiểm tra dân số, các luật lệ, cách tổ chức các chi họ. Nghĩa vụ đối với Thiên Chúa và với nhau. Thuật tiếp câu chuyện xuất hành từ Sinai tới Canđê.

– Sách Đệ nhị luật (thứ luật): lập lại một số luật đã áp dụng thời xuất hành (12-26), ba bài diễn văn của Môisen (1-4; 5-11; 29-30), tường thuật những chặng đường lịch sử, đề cao lòng trung tín của Giavê và dân Ngài. Kết thúc nói về sứ mệnh của Giosuê, người kế vị Môisen và cái chết của Môisen. Sách Đệ nhị luật dẫn chúng ta vào tình yêu Thiên Chúa, chính Ngài dẫn dắt cuộc sống của ta.

Ngũ kinh ghi lại những dữ kiện lịch sử như tang chứng cho thấy mối liên lạc giữa Thiên Chúa và con người, là nền móng, là luật lệ làm nên Do Thái giáo, làm thành Dân Chúa. Mọi trình thuật Ngũ kinh đều nhằm tuyên xưng: có một Thiên Chúa, đã thành lập một Dân, đã ban cho dân ấy một Xứ sở. Thiên Chúa ấy là Giavê, dân ấy là Israel và xứ sở ấy là Đất Hứa. Đọc Ngũ kinh, người Do Thái hiểu ngay sứ mạng của mình trong lịch sử cứu độ đối với thế giới là phổ biến lòng tôn kính Thiên Chúa và dọn lòng dân đón chờ Đấng Cứu Thế.

  1. Cầu nguyện:

Lạy Chúa, đêm dần buông, con đã trải qua một ngày sống trong tình yêu thương qua phòng của Chúa. Giờ đây, con muốn đặt mình trước nhan Chúa để trong lặng lẽ con cảm tạ Chúa vì những ơn Chúa đã ban trong ngày qua. Và xin Chúa thứ tha những vấp ngã của con, những lần con bịt tai trước tiếng Chúa. Con biết mình đã yêu Chúa, nhưng chưa yêu Chúa hết lòng.

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. Truyền thống Giaviste khác với truyền thống Elohiste ở chỗ nào?
  2. Nội dung sách Đệ nhị luật là gì? Sách đó đã giúp Israel như thế nào và ngày nay giúp người tín hữu thế nào?
  3. Sinh hoạt:
  4. Trò chơi: Đạp bóng

Mỗi em được một trái bong bóng, thổi phồng và cột vào cổ chân trái của mình. Tập họp vòng tròn. Trưởng bắt một bài hát vui, các em vừa đi vừa hát. Bất ngờ, trưởng thổi một tiếng còi (·)  Nghe còi, các em đứng lại, cố đạp nổ trái bóng của người bên cạnh. Khoảng 1 phút, trưởng lại thổi hồi còi thứ hai (—), bài hát tiếp tục, không được đạp bóng nữa. Và lại thổi còi lần ba (·). Thổi nhiều lần liên tiếp nhau. Cuối cùng, ai không bị bể bóng là thắng cuộc. (Người bị bể bóng không được tham gia đạp bóng)

  1. Chuyên môn: Cấp cứu rắn cắn (tiếp theo)

* Đối với nạn nhân:

Khi bị rắn cắn, nạn nhân phải thật bình tĩnh và hành động mau lẹ bằng cách bóp chặt phần trên vết cắn và gọi người tới cứu giúp. (Nếu tự mình cột được dây thắt mạch là tốt nhất).

* Đối với người tới cứu:

. Bình tĩnh và hành động mau lẹ.

. Đặt nạn nhân nằm yên, cố giúp nạn nhân càng bình tĩnh càng tốt, bất cứ điều gì khiến mạch đập mau hơn bình thường sẽ rất nguy hiểm vì trong trường hợp này nọc sẽ lan mau hơn.

. Vết cắn ở tay hay chân, nên cột dây thắt mạch ngay ở bên trên vết cắn. Dùng dao lam hay dao bén mỏng, hơ trên lửa hay nhúng vào Teinture d’iode, cồn 900 để sát trùng rồi cắt hình dấu thập trên mỗi dấu răng cắn, mỗi vết cắt dài chừng 6mm (phải cẩn thận, tránh các tĩnh và động mạch lớn gần mặt da cũng như các cơ cấu tế nhị khác như gân và dây thần kinh).

. Dùng dụng cụ hút nọc độc ra lập tức và làm liên tục cho đến khi bác sĩ tới.

. Trong khi cấp cứu phải nhờ người khác đi tìm bác sĩ.

. Nếu có sẵn thuốc giải độc, ta có thể theo lời chỉ dẫn trên hộp thuốc mà chích (tốt hơn việc này nên để cho bác sĩ).

. Nếu không gọi được bác sĩ hay bác sĩ chưa đến kịp, mà nọc độc tiếp tục lan thêm về phía thân mình, ta có thể đi quá sự cấp cứu thông thường: cắt rộng thêm da (hình dấu thập) và cách chỗ cắt trước chừng 5 phân rồi tiếp tục hút nọc ra. (Có thể hút bằng miệng nhưng cơ má và cơ môi mau mỏi, kết quả không khả quan lắm. Nếu không có ống hút nọc, có thể dùng ống giác hay ly thủy tinh không bị mẻ miệng để hút). Mỗi khi gỡ ống hút ra, dùng nước ấm pha với muối Sulfat de magnésie thấm vào băng gạc đắp lên vết cắt. (Trong trường hợp nặng có khi phải cắt từ 30-40 chỗ).

. Để tay hay chân bị cắn thấp hơn thân mình nạn nhân.

(Việc hút nọc sẽ có hiệu nghiệm ngay nếu nọc độc mới chỉ làm tổn thương đến hệ tuần hoàn; Nếu nọc độc làm tổn thương đến hệ thần kinh thì kết quả không khả quan lắm, tuy nhiên việc hút nọc vẫn là điều rất cần thiết cho tính mạng nạn nhân).

. Nên cho nạn nhân uống thật nhiều nước, cũng nên cho uống thuốc xổ muối để xổ.

. Phải đề phòng nạn nhân bị kích ngất, giữ nạn nhân cho ấm, đầu thấp hơn thân mình.

. Cố gắng đừng để mất nhiều máu.

* Hãy nhớ: Chỉ cấp cứu theo cách trên khi phải đợi bác sĩ hoặc chờ phương tiện, tốt nhất vẫn là đưa nạn nhân càng sớm càng tốt đến bệnh viện để được điều trị.

 

  1. Răng móc ở tư thế bình thường
  2. Răng móc ở tư thế cắn
  3. Bọc nọc rắn ở chân răng mác

 

Hình đầu rắn độc, rắn dùng răng để giữ mồi chứ không để nhai, rắn không độc không có răng móc.

 

 

Dấu răng của rắn độc                     Dấu răng của rắn không độc.

 

———————————————————————————————————————————————————

Bài 9

CÁC SÁCH LỊCH SỬ

Ông Giosuê qyi tụ ở Sikem mọi chi tộc Israel và triệu tập các kỳ mục Israel, các thủ lãnh, thẩm phán và ký lục. Họ đứng trước nhan Thiên Chúa. Ông Giosuê nói với toàn dân: “Đức Chúa, Thiên Chúa của Israel phán thế này: “Thuở xưa, khi còn ở bên kia sông, cha ông các ngươi, cho đến Têrakh là cha của Abraham và của Nakhor, và đã phụng thờ các thần khác. Ta đã đem cha các ngươi là Abraham từ bên kia sông cả mà dẫn đi khắp đất Canaan. Ta đã cho dòng dõi nó nên đông đúc và ban Isaac cho nó. Ta ban cho các ngươi đất các ngươi không vất vả khai phá; những thành các ngươi đã không xây mà được ở; những vườn nho, và vườn Oliu các ngươi đã không trồng mà được ăn. Bây giờ, anh em hãy kính sợ Đức Chúa hãy chân thành và trung tín phụng thờ Người. Anh em hãy vất bỏ các thần cha ông anh em đã phụng thờ bên kia sông cả và ở Ai Cập và hãy phụng thờ Đức Chúa. Dân đáp lại: chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần khác. Vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi, đã đem chúng tôi cùng với cha ông chúng tôi lên từ đất Ai Cập, từ nhà nô lệ, đã làm trước mắt chúng tôi những dấu lạ lớn lao, đã gìn giữ chúng tôi trên suốt con đường chúng tôi đi.

(Gs 24,1-4.13-14.16-17)

  1. Bài học:

Cựu ước có 16 cuốn lịch sử, được chia làm hai nhóm:

– Nhóm I: 7 cuốn đầu được gọi là các ngôn sứ tiền gồm: Giosuê, Thủ lãnh, Ruth, 2 sách Samuel, 2 sách các Vua

. Sách Giosuê: trình bày việc chiếm xứ Palestin và việc phân chia lãnh thổ cho 12 chi tộc dưới sự lãnh đạo của ông Giosuê, người kế vị Môisen.

. Sách Thủ lãnh (Thẩm phán): 200 năm đầu ở vùng đất mới chiếm, dân sống theo quy chế bộ lạc bị dân địa phương áp bức; Thiên Chúa cho nhiều người đứng lên bênh vực họ (Samson, Giêđêon,…) Những người này được gọi là Thẩm phán, không phải vì họ xử kiện nhưng vì đã thi hành các phán quyết của Thiên Chúa là những can thiệp của Thiên Chúa để bênh vực dân Ngài.

. Sách Ruth: Bà là người Moab lấy chồng người Do Thái; chồng chết, bà theo mẹ chồng về Palestin để tôn thờ Thiên Chúa. Rồi kết duyên với ông Bột sinh ra Giêtsê là cha của Đavid, tổ tiên của Đấng Cứu Thế.

. Sách Samuel 1 và 2: sách tường thuật giai đoạn đầu của vương quốc Israel. Samuel là vị Thẩm phán cuối cùng, chính ông xức dầu phong vương cho Saolê và Đavid.

. Sách các Vua 1 và 2: hai sách đánh giá các vua cai trị dân Chúa theo tiêu chuẩn: họ có trung thành với luật Thiên Chúa hay không?

– Nhóm II: 9 cuốn gồm: 2 sách Sử ký, Esdras, Nêhemia, Tobia, Giuđich, Esther, 2 sách Macabê.

. Sách Sử ký 1 và 2: sách ghi chép sự kiện theo thời gian và nêu lên rằng: khi Israel trung thành với Giao ước thì được Thiên Chúa hỗ trợ, khi lìa bỏ Giao ước thì đất nước bị suy thoái.

. Sách Esdras và Nêhemia: tiếp nối hai sách Sử ký, nói về cuộc hồi hương năm 538 trước Công nguyên của những người lưu đày và việc tái thiết Giêrusalem.

. Sách Tobia: chuyện đạo đức kể về gia đình Tobia. Nêu bật giá trị lý tưởng về hôn nhân, gia đình. Khích lệ việc cầu nguyện, chay tịnh, bác ái. Vì cuối cùng, người công chính sẽ được Thiên Chúa ban thưởng.

. Sách Giuđich: một quả phụ trẻ đẹp đã cắt đầu tướng giặc là Hôlôphê cứu dân Israel. Ca ngợi lòng tin cậy vào Thiên Chúa và lòng yêu nước.

. Sách Macabê 1 và 2: là sách viết về những anh hùng tử đạo của Israel. Thời đế quốc Ba Tư và Hy Lạp đô hộ, họ bắt ép người Do Thái phải thờ phụng và tin tưởng như họ. Nhưng nhiều người Do Thái thà chết chứ không bỏ đạo.

  1. Cầu nguyện:

Lạy Chúa, Chúa đã gìn giữ con để con khỏi sa ngã nặng nề mà mất tình bạn với Chúa. Nhìn lại mình, biết bao nhiêu thiếu sót trong bổn phận, yếu đuối trong việc làm chủ bản thân, cả những lỗi phạm trong đức bác ái,…Xin giúp con sống quảng đại hơn và mưu ích hơn cho nhiều người.

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. Israel là dân riêng được Chúa chọn và hỗ trợ mà tại sao trong lịch sử, họ bị rất nhiều dân xâm chiếm, đô hộ?
  2. Người Thủ lãnh của Israel là người thế nào?
  3. Sinh hoạt:
  4. Phong trào: MỤC ĐÍCH THIẾU NHI THÁNH THỂ

Phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể là một đoàn thể Công giáo tiến hành, nhằm mục đích qui tụ các trẻ em quanh Chúa Giêsu Thánh Thể để huấn luyện chúng nên những con người hoàn thiện và những Kitô hữu đích thực.

+ Tạo 1 môi sinh tốt và những hoàn cảnh thuận lợi để thanh thiếu niên sống Tin Mừng, làm tông đồ cho nhau và góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Tin Mừng.

+ Công đồng Vaticanô II dạy: “Người trẻ phải trở nên những tông đồ đầu tiên và trực tiếp của giới trẻ”. Chúng có thể và thực sự là chứng nhân sống động của Chúa Kitô giữ các bạn hữu.

  1. Trò chơi : Thổi đèn cầy

– Dụng cụ: khăn bịt mắt, đèn cây cho mỗi đội.

– Tập trung các em đứng vòng tròn. Mỗi đội cử ra 1 em để thi đấu. Em đó đứng vào giữa vòng, bịt mắt và tay phải cầm đèn cầy cháy sáng, tay trái đút vào túi quần. Sau hiệu lệnh, các em ở trong cố làm sao thổi tắt nến của đối thủ (trong thời gian 5 phút). Đội nào bị thổi tắt sẽ bị phạt.

  1. Chuyên môn : Tải thương

Di chuyển nạn nhân cho thích hợp là việc rất quan trọng trong môn cấp cứu. Nếu ta chăm sóc chu đáo mà di chuyển không khéo, mọi sự có thể trở nên vô ích và đôi khi còn làm khó khăn hơn cho việc điều trị. Đặc biệt các vết thương nơi đầu, gẫy xương sống, xương sườn, xương đùi, xương ống chân sẽ phải chữa trị khó khăn và bị nguy hiểm hơn nếu nạn nhân không được di chuyển thích hợp. Các trường hợp nặng luôn được di chuyển trong tư thế nằm.

Ngoại trừ những hoàn cảnh đặc biệt, việc di chuyển nạn nhân phải được một y sĩ đích thân điều khiển hay hướng dẫn. Khi di chuyển nạn nhân không được phép hấp tấp, trước khi di chuyển nạn nhân phải có những biện pháp cấp cứu cần thiết (như hô hấp nhân tạo, làm Garrot,…) và nới lỏng các quần áo nạn nhân.

Nếu có cáng cứu thương để di tản nạn nhân là tốt nhất. Nhưng cũng có thể dùng các vật liệu tại chỗ như: ghế dài, chăn (mền), bao bố, áo Sơmi, khăn quàng, dây lưng.v.v…

  1. Làm cáng
  2. Dùng khăn quàng

 

  1. Dùng bao bố: cắt hai góc đáy bao và xuyên gậy qua.

 

  1. Dùng 2 áo Sơmi: lộn trái, xuyên gậy qua 2 tay áo, cài cúc áo lại. Hai áo Sơmi phải tương đương nhau, đừng một to một nhỏ.

* Chú ý: Khi làm cáng xong, phải thử lại bằng cách nhờ một người có sức nặng bằng hay hơn nạn nhân nằm thử để tránh trường hợp khi đặt nạn nhân lên, cáng chịu không nổi, gẫy, tuột rách…do sức nặng của nạn nhân thì đúng là đổ nợ !    (còn tiếp)

 

 

 

 

 

———————————————————————————————————————————————————

Bài 10

CÁC SÁCH NGÔN SỨ LỚN

Trời hãy nghe đây; đất lắng tai nào, vì Đức Chúa phán: “Ta đã nuôi nấng đàn con, cho chúng nên khôn lớn, nhưng chúng đã phản nghịch cùng Ta. Con bò còn biết chủ, con lừa còn biết cái máng cỏ nhà chủ nó, nhưng Israel thì không biết, dân Ta chẳng hiểu gì. Khốn thay dân tộc phạm tội, dân chồng chất lỗi lầm, giống nòi gian ác, lũ con hư hỏng! Chúng đã bỏ Đức Chúa, đã khinh Đức Thánh của Israel, mà quay lưng đi.

(Is 1,2-4)

  1. Bài học

– Ngôn sứ (Nabi) là những người được Thiên Chúa kêu gọi để thi hành sứ mệnh: họ nói lời của Thiên Chúa, nói thay Thiên Chúa. Các ngài loan báo sứ điệp không chỉ bằng lời nhưng còn bằng cả đời sống, bằng những hành vi tượng trưng. Nhiệm vụ ngôn sứ rất phũ phàng vì thường hay bị đánh đập, sỉ nhục, tù đày, giết chóc…

– Trong kinh bộ Kitô giáo, các sách Ngôn sứ chia làm 2 nhóm:

. Ngôn sứ lớn (Isaia, Giêrêmia, Êzêkiel, Đaniel).

. Ngôn sứ nhỏ (Hôsê, Giôel, Amos, Ovađia, Giôna, Mikha,          Nakhum, Habacuc, Xôphônia, Khắcgai, Giacaria, Malakia).

Gọi là “nhỏ” không phải vì vai trò, sứ mạng hoặc ảnh hưởng của các vị này không đáng kể nhưng vì các sách đều ngắn.

– Sách Isaia: được chia làm 3 phần:

. (Chương 1-40). Loan báo sự sụp đổ của Israel và Giuđa, loan báo những hình phạt dành cho sự bất trung của dân. Ông trách dân không đủ tín nhiệm vào Thiên Chúa. Isaia là vị Ngôn sứ của lòng tin.

. (Chương 41-55). Thời lưu đày ở Babylon: nhằm an ủi dân hướng lòng trông đợi ngày Thiên Chúa cứu độ.

. (Chương 56-66).Vinh quang của Giêrusalem.

– Sách Giêrêmia: sự xâu xé của một tâm hồn, sinh ra để yêu mến nay được sai đi “để nhổ và lật đổ, để hủy và để phá”. Giêrêmia làm Ngôn sứ ở Giêrusalem. Ông miễn cưỡng đi làm sứ giả cho Thiên Chúa, vì cứ phải tiên báo tai ương, hoạn nạn cho một dân hết sức phản nghịch. Bị ngược đãi, đánh đòn, đeo gông, giam cầm, quẳng xuống bùn cho đến chết nhưng không bỏ cuộc.

– Sách Êzêkiel: trong đám người lưu đày có một vị Ngôn sứ đi theo để an ủi, khích lệ dân, đó là Êzêkiel. Ông kêu gọi họ thật lòng hoán cải, mạnh mẽ đòi hỏi họ ý thức trách nhiệm cá nhân. Ông mở cho thấy viễn tượng giao ước mới trong Thánh Thần và một cuộc xuất hành mới: trở về đất hứa.

– Sách Đaniel: viết với mục đích nâng đỡ đức tin người Do Thái trong thời bách hại của Antiochus Epiphane, sách gồm hai phần.

. 6 chương đầu: kể chuyện Đaniel và các thiếu niên Do Thái được nuôi dạy và phục vụ trong đền vua Nabucodonosor mà vẫn trung thành với luật Chúa. Đaniel giải mộng cho đức vua, tỏ rõ ý Chúa: báo trước các đế quốc sẽ tiếp nối nhau trong tương lai cho tới ngày chiến thắng dứt khoát của Thiên Chúa, và kẻ lành sẽ được phục sinh.

. 6 chương sau: thị kiến về Nước Thiên Chúa sẽ đến bao trùm mọi dân, mọi nước. Đó là nước của các thánh, của Thiên Chúa, của Con Người.

  1. Cầu nguyện:

Lạy Chúa, Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. Xin Chúa nhìn đến rất nhiều người chưa nhận biết Chúa, họ cũng cần đến ơn cứu chuộc. Xin Chúa thôi thúc nơi con khát vọng truyền giáo, khát vọng muốn chia sẻ niềm tin và hạnh phúc, niềm vui và bình an của Chúa cho tha nhân. Xin dùng con như khí cụ bình an của Chúa.

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. Ngôn sứ là ai ?
  2. Giáo lý của các ngôn sứ lớn xoay quanh những vấn đề gì ?
  3. Sinh hoạt:
  4. Trò chơi : Nhảy bao bố

– Vật liệu: mỗi đội 1 bao bố (bao gạo 50kg).

– Cách chơi: vạch mức đến cách mức khởi hành 10m. Các đội tập họp hàng dọc. Sau hồi còi hiệu, em đầu mỗi đội cho 2 chân vào bao và nhảy đến mức rồi quay về trao lại cho em kế tiếp (10 điểm). Mỗi lần ngã bị trừ 1 điểm. Chơi cho đến em cuối cùng. Đội nào xong trước và bị trừ ít điểm nhất là thắng cuộc.

  1. Chuyên môn : Tải thương (tiếp theo)
  2. Đặt nạn nhân lên cáng

– Đặt cáng theo chiều dọc phía trên đầu nạn nhân, trong khi một người nâng phía vai, người kia nâng phía dưới đầu gối nạn nhân một cách nhẹ nhẹ, hai người phụ trách khiêng cáng sẽ lùa cáng vào qua giữa hai chân những người khiêng để cho hai người khiêng từ từ đặt nạn nhân xuống cáng.

– Luôn luôn để đầu nạn nhân cao hơn chân, trừ trường hợp nạn nhân bị gẫy xương đùi hay bị ngất xỉu. Khi lên dốc,  phải giữ đầu nạn nhân ngang bằng hay thấp hơn chân một chút.

  1. Di chuyển: Khi khiêng, chân nạn nhân đi trước, người khiêng đàng sau là người điều khiển việc di chuyển, không được la lối ầm ĩ nhưng ra lệnh từ từ và rõ ràng: “Chuẩn bị khiêng… khiêng!” Khi nghe hô “Chuẩn bị khiêng”, hai người nắm lấy tay cáng, nghe lệnh “khiêng” từ từ đứng lên. (Không bao giờ ngồi xổm khi nhấc cáng, người đàng trước chân phải co gối 900, chân trái co sát gối; người đàng sau chân phải co sát gối, chân trái co gối 900).

– Các khẩu lệnh như tiến, ngừng, hạ… phải được truyền rõ ràng theo phương thức có dự lệnh và động lệnh.

– Người đi trước bước đi bằng chân trái, thì người đi sau bắt đầu bước bằng chân phải, bước đi từng bước ngắn. Ngoài nhiệm vụ điều khiển người đi trước, người đi sau còn có nhiệm vụ quan sát nạn nhân để đề phòng các biến chứng.

– Nếu nạn nhân quá “vĩ đại”, hai người khiêng không xuể, có thể dùng 4 người. Trong trường hợp này, mỗi người khiêng một đầu cáng và đều đi ở phía ngoài cáng. Người đi sau bên trái là người điều khiển.

 

———————————————————————————————————————————————————

Bài 11

CÁC SÁCH NGÔN SỨ NHỎ

Ông Giôna bực mình, bực lắm, và ông nổi giận. Ông cầu nguyện với Đức Chúa và nói: “Ôi! Lạy Đức Chúa, đó chẳng phải là điều con đã nói khi ở quê nhà sao? Chính vì thế mà con đã vội vàng trốn đi Tarsis. Thật vậy, con biết Ngài là Thiên Chúa từ bi, nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương và hối tiếc vì đã giáng họa. Giờ đây, lạy Đức Chúa, xin Ngài lấy mạng sống con đi, vì thà con chết đi còn hơn là sống”. Đức Chúa hỏi ông: “Ngươi nổi giận như thế có lý không ?”                   (Gn 4,1-4)

  1. Bài học:

Có 12 Ngôn sứ nhỏ: Hôsê, Giôel, Amos, Ovadia, Giona, Mikha, Nakhum, Habacúc, Sophonia, Khácgai, Giacaria,Malakhi.

– Sách Hôsê: Hôsê là người đầu tiên diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và Israel trong ngôn ngữ một cuộc hôn nhân. Kinh nghiệm đau thương trong đời sống hôn nhân của ông là hình ảnh diễn tả tình thương yêu của Thiên Chúa với Israel bất trung. Thiên Chúa sẽ sửa trị để đưa Israel về lại với Người.

– Sách Giôel: tiên báo ngày Chúa sắp đến và kêu gọi mọi người sám hối, chay tịnh.

– Sách Amos: ông là người miền Nam làm tiên tri ở miền Bắc một thời gian ngắn, lúc vương quốc thịnh vượng. Ông lên án cuộc sống bất công, áp bức, lên án sự an tâm giả tạo trong những phụng tự vô hồn. Ông loan báo: sẽ đến ngày Chúa đoán phạt những người Israel bất trung.

– Sách Ovađia: chỉ có 21 câu, tiên báo dân Edom sẽ bị trừng phạt vì đã can thiệp để chống Giêrusalem.

– Sách Giôna: chuyện kể một Ngôn sứ bất tuân, trốn tránh sứ vụ hay càm ràm với Thiên Chúa. Nhưng lòng Thiên Chúa bao la. Những đe dọa là biểu hiện lòng thương xót tha thứ của Thiên Chúa, Ngài chỉ chờ một dấu hiệu hối cải để ban ơn tha thứ.

– Sách Mikha: tố cáo các bất công xã hội và loan báo sự xét xử của Thiên Chúa. Ông nhấn mạnh niềm hy vọng Đấng Thiên Sai từ dòng tộc Đavid.

– Sách Nakhum: Nakhum được xem như một trong những thi sĩ lớn của Israel vì lối loan báo và diễn tả của ông về sự sụp đổ của Ninivê bằng một giọng điệu sống động và súc tích. Ninivê là thủ đô của Assua, tượng trưng cho sức mạnh của sự dữ đang thao túng trên thế gian.

– Sách Habacuc: được chia làm 3 phần:

. Cuộc đối thoại giữa vị Ngôn sứ và Thiên Chúa (1-2,4);

. Nguyền rủa bạo quyền (2,5-20);

. Kêu gọi Giavê can thiệp (3).

Ông đã đem lại nét mới mẻ trong giáo lý của các Ngôn sứ: ông dám vặn hỏi Thiên Chúa về việc Ngài cai quản thế giới.

– Sách Sophonia: loan báo ngày của Giavê chụp xuống mọi dân tộc và trên Giuđa, vì Nước Giuđa kiêu ngạo, bất phục tùng, sống vô luân. Ông nêu cao ý niệm sâu xa về tội. Hình phạt là một sự cảnh cáo nhằm đưa tội nhân về con đường vâng phục, khiêm tốn.

– Sách Khácgai: viết khoảng năm 520 trước công nguyên, lúc những người Do Thái đầu tiên từ Babylon trở về tái thiết đền thờ. Họ phải đối diện với thực tế bi đát, nên bị rơi vào tuyệt vọng. Ngôn sứ khích lệ họ, ông nói về vinh quang của đền thờ và lời hứa ban thịnh vượng của Thiên Chúa.

– Sách Giacaria: chia làm 2 phần:

. (Chương 1-8): với 8 thị kiến. Chú trọng đến việc tái thiết đền thờ, xây dựng quốc gia với những đòi hỏi: phải tinh sạch về luân lý và tỉnh thức về tôn giáo.

. (Chương 9-14): Đấng Cứu Thế sẽ đến và thiết lập vương quốc của Thiên Chúa. Đất hứa mới và Vị Cứu Thế. Khôi phục Israel, 2 mục tử. Canh tân Giêrusalem và cuộc tranh đấu ngày sau hết.

– Sách Malakhi: đền thờ đã xây dựng xong, dân lại rơi vào chán nản, thờ ơ. Malakhi nhắc nhở dân: đòi hỏi của Thiên Chúa về một lòng đạo sâu xa, khai trừ mọi hình thức kết hôn dị giáo và ly dị, phải tôn trọng lề luật.

  1. Cầu nguyện:

Lạy Chúa, chúng con thấy mình bé nhỏ trước sứ mạng Chúa trao là đi đến tận cùng thế giới để loan báo Tin Mừng. Chúng con xin đến với những người bạn gần bên, giúp họ làm quen với Đức Giêsu và tin vào Ngài qua đời sống yêu thương cụ thể của chúng con. Chúng con cũng cầu nguyện cho tất cả những ai đang xả thân lo việc truyền giáo. Xin Chúa cho những cố gắng của các ngài được trổ sinh nhiều hoa trái.

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. Tại sao các ngôn sứ thường loan báo án phạt và tai họa của Thiên Chúa ?
  2. Ngôn sứ nào đã loan báo về Đấng Cứu Thế ?
  3. Sinh hoạt:
  4. Phong Trào: LỊCH SỬ PHONG TRÀO TNTT

Phong Trào Thiếu Nhi Thánh Thể là một đoàn thể Công giáo giúp thăng tiến và thực hành sống đạo cho các em Thiếu nhi.

Phong Trào lấy tinh thần Đạo Binh Thánh Giá thời Trung cổ: thay vì bảo vệ thánh địa vất chất, Phong Trào bảo vệ và tô điểm đền thờ thiêng liêng là tâm hồn các em Thiếu nhi với vũ khí là Cầu Nguyện, Rước Lễ, Hy Sinh và làm Tông đồ. Phong Trào bắt nguồn từ hội Tông Đồ Cầu Nguyện bên Pháp do Linh Mục Léonard Cross và Ramadiere khởi xướng năm 1865.

Phong Trào có mặt tại Việt Nam nhờ 2 cha Léon Pillard và Paul Urureau. Năm 1929, Phong Trào mang tên là Nghĩa Binh Thánh Thể, đến năm 1965 được đổi thành Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam và đưa phương pháp sinh hoạt trẻ vào như một phương cách giáo dục mới. Năm 1971 hoàn thiện tài liệu huấn luyện cho phù hợp với giai đoạn mới. Năm 2003 tái lập Phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể phù hợp với hoàn cảnh mới.

  1. Trò chơi : 3 ngựa 4 chân

Chia các em thành từng tốp 3 em. Dùng khăn cột chân phải của em thứ nhất với chân trái của em thứ hai. Khăn nữa cột chân phải em thứ hai vào chân trái em thứ ba. Như thế 3 em nhưng chỉ có 4 chân.(Vạch mức khởi hành cách mức đến 5m). Sau một hồi còi lệnh, các ngựa tập họp tại mức khởi hành và bắt đầu phi, đến mức đến rồi trở về mức khởi hành. Ngựa nào về trước là thắng cuộc.

  1. Chuyên môn : Tải thương bằng các phương tiện khác

Việc di chuyển nạn nhân ở trong tình trạng trầm trọng là điều khẩn thiết, đôi khi chúng ta không thể tìm được những vật liệu cần để tạo một cái cáng tải thương cho đàng hoàng.

Sau đây là một vài cách di tản nạn nhân khi không có cáng tải thương.

  1. Dùng ghế:

Nếu nạn nhân không bị gẫy xương trầm trọng, cho nạn nhân ngồi trên ghế dựa.

– Một người giữ lưng ghế.

– Một người nắm hai chân trước của ghế, sát mặt ghế.

 

  1. Dùng tay:

– Một người bê 2 chân nạn nhân chỗ đầu gối.

– Một người lòn dưới nách nạn nhân, 2 tay nắm lấy nhau ở trước ngực nạn nhân.

 

Cách II

– Hai người khiêng đứng cạnh nhau. Tay phải người này nắm chặt vai trái người kia và ngược lại. Còn 2 tay kia thì nắm chặt cườm tay của nhau.

 

– Nạn nhân sẽ ngồi lọt bàn tọa vào giữa 4 cánh tay. Dựa lưng vào 2 tay người khiêng, 2 tay nạn nhân choàng qua 2 vai người khiêng.

 

 

 

 

———————————————————————————————————————————————————

Bài 12

SÁCH GIÁO HUẤN

Tôi nguyện xin, và Thiên Chúa đã ban cho tôi sự hiểu biết. Tôi kêu cầu và thần khí Đức Khôn Ngoan đã đến với tôi. Đức Khôn Ngoan, tôi đã quí trọng còn hơn cả vương trượng, ngai vàng. Tôi coi của cải chẳng là gì so với Đức Khôn Ngoan. Đối với tôi, trân châu bảo ngọc chẳng sánh được với Đức Khôn Ngoan, vì vàng trên cả thế giới so với Đức Khôn Ngoan cũng chỉ là cát bụi, và bạc so với Đức Khôn Ngoan cũng kể như bùn đất. Tôi đã ham chuộng Đức Khôn Ngoan hơn sức khỏe và sắc đẹp, đã quí Đức Khôn Ngoan hơn cả ánh sáng, vì vẻ rực rỡ của Đức Khôn Ngoan chẳng bao giờ tàn lụi. Nhưng cùng với Đức Khôn Ngoan, mọi sự tốt lành đã đến với tôi. Nhờ tay Đức Khôn Ngoan của cải quá nhiều không đếm xuể                                                            (Kn 7,7-12)

  1. Bài học:

– Sách Giáo huấn gồm 7 quyển, chia làm hai loại :

. Sách Khôn ngoan: Gióp, Châm ngôn, Giảng viên, Khôn ngoan, Huấn ca.

. Sách Thi ca: Thánh vịnh và Diễm ca.

Những sách này được sáng tác theo một loại văn chương đặc biệt ở vùng cận đông (Ai Cập, Lưỡng hà, Assyri). Loại văn này khởi nguồn từ kinh nghiệm sống nhằm giúp hiểu thân phận và đời sống con người. Đó là nghệ thuật sống trong xã hội.

– Sách Gióp: Ông Gióp là người tốt lành, đạo đức, hết lòng kính sợ Chúa. Ông giàu của giàu con, gặp tai họa khủng khiếp đến tán gia bại sản, bệnh tật ghê tởm…

Sách trình bày hiện tượng đau khổ của con người nhưng không tìm được giải đáp… Mãi đến thời Tân ước, Thánh Phaolô đã giải thích: “Tôi quyết rằng những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mạc khải nơi chúng ta” (Rm 8,18).

– Sách Châm ngôn: là sưu tập những lời dạy khôn ngoan, nghĩa là nghệ thuật ăn ở sao cho phù hợp thánh ý Chúa trong mọi hoàn cảnh. Nguồn gốc và tóm tắt các nhân đức là sự khôn ngoan vì khôn ngoan là kính sợ Thiên Chúa.

– Sách Giảng viên (Qohelet): nhận thức cái giả dối của hạnh phúc đời này, tất cả đều mong manh, hão huyền. Bổn phận của ta là đón nhận vui buồn và phải tuân giữ luật Chúa.

– Sách Khôn ngoan: là cuốn ra đời muộn nhất trong bộ Cựu ước. Theo tác giả, sự khôn ngoan đích thực chỉ đến từ Thiên Chúa. Ai có được khôn ngoan thì có hạnh phúc. Phải qua đau khổ đời này mới tới hạnh phúc đời sau.

– Sách Huấn ca: tác giả thấm nhuần tinh thần Do Thái giáo, ông tổng hợp lòng yêu mến sự khôn ngoan với sự tôn sùng lề luật. Theo ông, sự khôn ngoan chính là sách luật giao ước, người khôn ngoan đích thực là người trung thành phụng sự Chúa.

– Sách Diễm ca: là tuyển tập những bài thơ ca ngợi tình yêu. Sách Diễm ca chứa đựng những hình ảnh tuyệt vời để diễn tả cách chính xác tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội thánh, giữa con người và Chúa tình yêu.

– Sách Thánh vịnh: là sưu tập 150 bài thơ, là những lời cầu nguyện của dân Chúa để hát lên, để ngân nga trong những hoàn cảnh khác nhau, nói lên tình yêu của mình đối với Thiên Chúa. Thánh vịnh là lời Thiên Chúa dạy dân Chúa cầu nguyện, những tâm tình con cái phải có đối với Thiên Chúa. Thánh vịnh diễn tả tâm tình ca ngợi, tạ ơn, nài xin, than thở,…

  1. Cầu nguyện:

Lạy Chúa, thế giới hôm qua cũng như hôm nay vẫn có nhiều người bơ vơ lạc hướng, không tìm được niềm tin. Còn có những người chết trong tuyệt vọng. Xin Chúa cho chúng con nhìn thấy họ, và biết chạnh lòng xót thương như Chúa. Nhưng trước hết, xin cho chúng con nhìn thấy được chính bản thân chúng con.

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. Những sách Giáo huấn dạy thế nào về sự khôn ngoan?
  2. Thánh ý Thiên Chúa có phải là điều dễ hiểu không? Sách nào nói lên trăn trở này?
  3. Sinh hoạt:
  4. Phong trào: LÃNH NHẬN LỜI CHÚA

Lãnh nhận Lời Chúa là giờ không thể thiếu trong các sa mạc huấn luyện và được thực hiện trước bữa ăn trưa để nhắc nhớ: “Người ta sống không nguyên bởi bánh nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” thường kéo dài từ 15 đến 30 phút.

Một người đọc đoạn Tin Mừng (châm rãi, rõ ràng, nghiêm trang) Đội trưởng nói ít lời gợi ý. Thinh lặng để Lời Chúa thấm vào tâm hồn. Mỗi người nói lên tâm tình cầu nguyện (sau mỗi lời nguyện tất cả hát ‘Lời Ngài là sức sống của con…’ trước khi kết thúc trưởng hiện diện hoặc đội trưởng dâng lời nguyện chung.

  1. Trò chơi : Chạy chuyền khăn

– Tập họp các em theo đội, hàng dọc. Mỗi đội có 3 khăn quàng. Vạch 1 mức đến cách mức khởi hành 5m, vẽ 1 trụ cờ vòng tròn (2R = 1m)

Cách chơi: em đứng đầu mỗi đội buộc 1 khăn vào tay trái, 2 khăn vào cổ chân rồi chạy đến đích, vòng qua cột cờ, sau đó trở về đội cởi khăn, cột cho em thứ hai. Rồi em thứ hai lại chạy lên đích, vòng qua cột cờ, và chạy về cột cho em thứ ba. Tiếp tục cho đến em cuối cùng. (Em nào chạy xong về đứng phía sau của mỗi đội). Đội nào xong trước sẽ thắng.

  1. Chuyên môn : Xuất huyết

Xuất huyết (chảy máu), người ta phân biệt ba loại:

– Xuất huyết động mạch               : máu đỏ, phun có vòi.

– Xuất huyết tĩnh mạch                : máu đỏ xẫm, ứa tràn.

– Xuất huyết mao quản                : máu chảy rỉ rỉ.

Cả ba trường hợp trên, ta nhìn thấy máu từ cơ thể chảy ra, còn gọi là xuất huyết ngoại. Mặt khác, cũng có loại xuất huyết mà mắt không nhìn thấy, gọi là xuất huyết nội.

– Xuất huyết nội: là bị chảy máu ở bên trong cơ thể. Những  phần cơ thể bên trong hay bị xuất huyết: phổi, bao tử, ruột.

  1. Nhận xét:

– Xuất huyết bao tử: máu chảy ra ở bao tử thường bị dịch vị tác động biến thành màu nâu sậm, máu đông lại từng cục nhỏ như bã café.

– Xuất huyết ở ruột: nếu máu xuất ở ruột nơi một điểm cao của ruột, máu sẽ qua tiêu hóa và biến thành màu đen sậm. Nếu máu lẫn trong phân và có màu đỏ tươi, tức là máu bị xuất ở phần thấp trong ruột.

– Xuất huyết phổi: máu ở phổi ho ra có màu đỏ tươi và trong máu có nhiều bọt (bong bóng). Xuất huyết ở phổi, nếu không phải do bị vật cứng đâm vào thì phần lớn là do vi trùng lao.

  1. Triệu chứng: – Bần thần khó chịu.

                                            – Hồi hộp, lo sợ.

                                            – Khát nước.

Ba triệu chứng này thương xuất hiện trước khi có dấu hiệu ở bên ngoài chứng tỏ có sự xuất huyết bên trong.

  1. Cấp cứu:

Phương pháp cấp cứu giống nhau trong cả ba trường hợp:

– Để nạn nhân nằm ngửa, chân tay thẳng xuôi theo người. Đầu quay sang một bên để trong trường hợp ho, mửa… nạn nhân không bị nghẹt hay ngộp thở.

– Nạn nhân bị xuất huyết phổi hoặc bao tử thường hay lo âu, sợ hãi. Chính điều này làm tăng thêm tuần hoàn máu làm máu chậm đông và xuất huyết nhiều hơn.

– Khi ngực, hoặc lưng bị thương sâu làm phổi bị thủng. Nơi miệng vết thương ở ngực, lưng sẽ có bong bóng máu do hơi thở từ phổi thoát ra, ta phải băng kín vết thương lại không cho thoát khí. Nếu máu chảy trở lại phổi làm ngộp thở, hãy đỡ nạn nhân dậy đủ cao để dễ thở.

Trong cấp cứu xuất huyết nội, người cứu thương chỉ sơ cứu rồi nhanh chóng chuyển đến bệnh viện. Xuất huyết nội, chỉ bác sĩ mới có quyền xử lý và quyết định phương án chữa trị. Người cấp cứu không được cho nạn nhân uống bất cứ thứ gì.

 

 

 

 

———————————————————————————————————————————————————

Bài 13

TIN MỪNG

Thưa ngài Theophilo đáng kính, có nhiều người đã ra công soạn bản tường thuật những sự việc đã được thực hiện giữa chúng ta. Họ viết theo những điều mà các người đã được chứng kiến ngay từ đầu và đã phục vụ lời Chúa truyền lại cho chúng ta. Tôi cũng vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài. Mong ngài sẽ nhận thức được rằng: giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc.                                                                (Lc 1,1-4)

  1. Bài học:

Tin Mừng (Eu-angelia): tin vui loan báo một biến cố quan trọng. Trong Tân ước, “Tin Mừng” dùng để chỉ lời Chúa Giêsu rao giảng về Nước Trời và cũng chỉ lời các Tông đồ rao giảng về Chúa Giêsu Kitô đã chết và Phục sinh.

Về sau, chữ “Tin Mừng” mới được dùng để chỉ bốn tác phẩm đầu tiên của Tân ước nhằm loan báo Tin Mừng vĩ đại cho cả loài người là Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể làm người, sinh sống giữa loài người chúng ta. Tóm lại, chữ Tin Mừng có hai nghĩa:vừa là lời loan báo cứu độ, vừa là các tập sách chép lại lời loan báo đó.

Sách Tin Mừng không phải do những thư ký chuyên môn biên chép như các phóng viên ghi lại từng lời, từng việc của Chúa Giêsu (vì điều này không thực hiện nổi). Nhưng là cả một tập thể nhận lãnh, chia sẻ, suy niệm rồi mới viết ra điều mà họ biết và sống với Chúa Kitô.

Trước tiên những điều đó được chín mùi trong tâm hồn hàng ngàn tín hữu. Được Chúa Thánh Thần soi sáng cho hiểu biết ý nghĩa sâu xa. Vì thế, khi nhắc lại cho người ta những lời nói và việc làm của Đức Giêsu, các ông đã trình bày với sự hiểu biết sâu xa này, rồi sau được ghi chép lại.

Khi chăm chú đọc bốn sách Tin Mừng, ta sẽ thấy ba Tin Mừng: Mathêu, Marco, Luca có rất nhiều điểm giống nhau như các trình thuật, các diễn từ; đến nỗi người ta có thể sắp xếp những đoạn ấy thành những cột song song dễ dàng; nên gọi ba Tin Mừng đó là Tin Mừng nhất lãm.

– Tin mừng theo Thánh Mathêu: trước khi theo Chúa làm Tông đồ, ông có tên là Lêvi, hành nghề thu thuế. Ông viết Tin Mừng nhằm củng cố lòng tin của những người Kitô hữu gốc Do Thái. Ông dùng Cựu ước để minh chứng rằng Giêsu Nadareth đích thực là Đấng Mesia Thiên Chúa đã hứa.

– Tin mừng theo Thánh Marco: Marco là môn đệ của Thánh Phêrô, bạn đồng hành truyền giáo của thánh Phaolô, ông viết Tin Mừng này tại Roma cho các tín hữu gốc ngoại giáo nhằm minh chứng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Dưới con mắt người đời, Chúa Giêsu đã thất bại vì bị chống đối, nhưng thái độ đó xứng với thiên chức của Ngài là Đấng Cứu Thế.

– Tin Mừng theo Thánh Luca: Luca là thầy thuốc, là bạn đồng hành yêu quý của Thánh Phaolô trên đường truyền giáo, là người có tâm hồn tế nhị. Luca viết Tin Mừng này cho tín hữu tân tòng người Hy Lạp, La Mã để công bố lòng từ bi của Đức Kitô đối với tội nhân, với người cùng khổ. Tin Mừng Luca là Tin Mừng của Thần khí, Tin Mừng cầu nguyện đồng thời cũng là Tin Mừng đòi hỏi gắt gao: Đức Kitô đòi buộc ai muốn dõi bước theo Người, phải có một lòng từ bỏ tuyệt đối.

– Tin Mừng theo Thánh Gioan: Thánh Gioan là một nhân chứng, là người “môn đệ Chúa yêu”, là người đã được mắt thấy tai nghe và sống với Đấng cứu thế. Gioan viết Tin Mừng để cho chúng ta biết: Đức Giêsu là Đấng Kitô, là Đấng Cứu Thế, là Con Thiên Chúa, để ta tin vào và nhờ tin thì được sống đời đời.

 

  1. Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, giàu sang, danh vọng, khoái lạc là những điều hấp dẫn chúng con. Chúng trói buộc chúng con và không cho chúng con tự do ngước lên cao để sống cho những giá trị tốt đẹp hơn. Xin giải thoát chúng con khỏi sự mê hoặc của kho tàng dưới đất, nhờ cảm nghiệm được phần nào sự phong phú của kho tàng trên trời. Xin cho chúng con biết sẵn sàng mau mắn và vui tươi bán tất cả những gì chúng con có để mua cho được viên ngọc quý là Nước Trời.

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. Có mấy Tin Mừng? Và nội dung chính yếu của Tin Mừng là gì?
  2. Các sách Tin Mừng được soạn thảo nhằm mục đích gì?
  3. Sinh hoạt:
  4. Trò chơi : Chim đổi lồng

Chia từng tốp 3 em, 2 em đứng hai bên làm lồng, đâu hai tay với nhau. Em đứng giữa làm chim. Chọn 1 em làm chim tự do (không có lồng). Khi có lệnh còi, tất cả các chim phải chạy ra khỏi lồng để kiếm lồng mới. Em chim tự do cũng đi kiếm cho mình chiếc lồng. Em nào chậm chân, không kiếm được lồng sẽ trở thành chim tự do. Lưu ý: nên cho lệnh đổi lồng càng nhanh càng vui.

  1. Chuyên môn : Cách cầm máu

                Dây thắt mạch (làm Garrot)

Có nhiều cách cầm máu, tùy vết thương nặng hay nhẹ.

  1. Máu ra ít, nhẹ: chẳng hạn như đứt tay, trầy da, vết thương nhỏ… Em lấy ngón tay đè thẳng vào vết thương (lưu ý: tay phải sạch), các mạch máu nhỏ trong da sẽ được chận lại, máu sẽ bớt ra và ngưng chảy.
  2. Máu ra nhiều và mạnh: nếu nén trực tiếp vào vết thương mà không hiệu quả, em phải chọn mạch máu chảy đến vết thương dọc theo những động mạch, dùng tay ấn mạnh để chặn máu chảy đến vết thương. Nếu ấn vào động mạch không hiệu quả lắm, em phải dùng phương pháp cột garrot. Cột garrot là trường hợp bất đắc dĩ vì để lâu phần chi thể phía dưới sẽ bị chết, vì thế khi cột xong phải đem đi nhà thương ngay. Nếu quãng đường xa, cứ 15 phút mở garrot 1 lần.

* Những gạch đen ở hình là chỗ có thể cột garrot. Những điểm tròn là chỗ dùng tay ấn mạnh.

  1. Nếu cầm máu bằng phương pháp nén trực tiếp không hiệu quả ta mới dùng đến phương pháp cột dây thắt mạch, cột dây thắt mạch là trường hợp bất đắc dĩ, cột xong phải đưa nạn nhân đến bệnh viện ngay. Vì nếu để lâu, máu không lưu thông được vào phần phía dưới vết thương, do đó phần thân thể này sẽ bị chết, rất có thể sẽ bị cắt bỏ. Khi cột dây thắt mạch ta nên làm một thẻ ghi ngày và giờ làm Garrot để bác sĩ biết.

* Chú ý:

– Không bao giờ để dây thắt mạch lâu quá 2 giờ.

– Cứ 15-20 phút phải nới dây thắt mạch để máu lưu thông, nhưng không tháo ra. Nếu máu ngưng chảy cứ để dây thắt mạch lỏng như vậy, nếu máu ra, ta lại gút chặt dây thắt mạch lại.

– Khi làm dây Garrot xong phải băng vết thương cẩn thận đừng để nhiễm trùng rất nguy hiểm.

  1. Dây thắt mạch: được làm bằng dây cao su hay vải sợi (nhưng không được bén hay nhỏ quá có thể cắt đứt thịt khi cột). Có thể dùng băng cà-vạt, khăn quàng cổ, dây lưng, dây thun xe, khăn tay… Băng phải rộng ít nhất 5cm.

Có hai chỗ thuận tiện nhất cho việc làm dây thắt mạch:

– Chung quanh cánh tay, dưới nách chừng một bàn tay.

– Chung quanh bắp đùi, dưới háng chừng một bàn tay.

  1. Thực hiện cột dây thắt mạch bằng cà-vạt:

 

Quấn băng chung quanh tay, chân một hoặc hai vòng (H1), lấy thanh gỗ ngắn và cứng đặt trên nút lỏng (H2) rồi cột một nút dẹt (H3), vặn thanh gỗ thật lẹ thắt chặt dây Garrot ép động mạch để cầm máu. Dùng một băng khác cột ép thanh gỗ với tay để giữ không cho xổ dây thắt mạch ra.

  1. Nếu dây thắt mạch bằng dây cao su chỉ cần cuốn quanh cánh tay hoặc chân xiết chặt, cột hai đầu dây cao su bằng nút dẹt.

 

 

 

———————————————————————————————————————————————————

Bài 14

SÁCH CÔNG VỤ TÔNG ĐỒ

Thưa đồng bào Israel, xin nghe những lời sau đây: Đức Giêsu Nadareth, là Người đã được Thiên Chúa phái đến với anh em. Và để chứng thực sứ mệnh của Người, Thiên Chúa đã cho người làm những phép mầu, điềm thiêng và dấu lạ giữa anh em. Chính anh em biết điều đó. Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Đức Giêsu ấy đã bị nộp và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết. Vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi… Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng. Vậy toàn thể nhà Israel phải biết chắc điều này: Đức Giêsu mà anh em đã treo trên Thập Giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô.                                                       (Cv 2,22-24.32.36)

  1. Bài học:

Công vụ Tông đồ là tác phẩm thứ hai của Luca, sau khi viết Tin Mừng của Chúa Giêsu, là tóm lược những trang sử đầu tiên của Hội thánh, từ lúc còn là “hạt cải nhỏ bé, cho đến khi thành cây to đến nỗi chim trời đến nương náu nơi cành nó”.

Sách được chia thành hai phần chính:

– Phần 1 (từ 1,12 đến 15,35): trình thuật về những bước đầu tiên của Hội thánh, tập trung vào hoạt động của Thánh Phêrô, trong khung cảnh Giêrusalem, xứ Giuđêa và Syria.

– Phần 2 (từ 15,36 đến 28,31): Tin Mừng được loan báo cho chư dân. Những bước tiến của Kitô giáo, tập trung vào hoạt động của Thánh Phaolô với các chuyến đi truyền giáo của ngài.

Thánh Luca ghi nhận lại những kỷ niệm về những năm tháng đầu của Hội thánh mà ngài được phúc chứng kiến và cũng để cho thấy Chúa Thánh Thần làm việc thế nào để đặt nền móng cho Hội thánh và hướng dẫn Hội thánh lớn lên ngay giữa những chướng ngại của loài người. Thánh Luca mô tả nếp sống của các cộng đoàn ban đầu, nhấn mạnh việc Tin Mừng được lan rộng từ Do Thái đến thế giới dân ngoại. Chúng ta mục kích được sự khai sinh của nhiều cộng đoàn Kitô hữu khác nhau trong môi trường Do Thái như ở Giêrusalem hoặc ở trong môi trường lương dân như ở Antiokia, Côrintô, Philipphê.

Cách đặc biệt, khuôn mặt của hai vị Tông đồ cột trụ trong Hội thánh là Thánh Phêrô và Thánh Phaolô. Chúng ta thấy được rằng nhờ Chúa Thánh Thần Hội thánh thời đó đã có một lối sống thích hợp.

  1. Cầu nguyện:

Lạy Chúa. chúng con không hiểu tại sao Chúa chọn Simon, một người ngư phủ, ít học, quê mùa để làm vị Giáo Hoàng đầu tiên của Hội thánh, làm người thay mặt Chúa nơi trần gian. Xin cho chúng con một chút liều lĩnh của Simon: dám bỏ tất cả lại sau lưng, ra khơi tìm bến bờ hạnh phúc, vì biết rằng chỉ có Chúa là hạnh phúc và lẽ sống của đời con

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. Cộng đoàn tiên khởi mà sách Công vụ trình bày có những thuận lợi và khó khăn gì?
  2. Tại sao ngay giữa những khó khăn, thử thách của Hội thánh sơ khai, tác giả sách Công vụ vẫn giữ được vẻ lạc quan?
  3. Sinh hoạt:
  4. Phong trào: KỸ THUẬT GIÚP ĐOÀN TIẾN (Nguyên tắc):

– Thiếu Nhi Thánh Thể là đoàn thể đạo đức nên phải nhấn mạnh đến yếu tố sống đạo và tinh thần Thánh Thể.

– Chuyên môn, sinh họat cần, nhưng không phải là chính yếu. Dùng chuyên môn để hỗ trợ việc học giáo lý. Thích nghi bài học vào các trò chơi, bài hát … để dễ nhớ và nhớ lâu.

– Nên nhớ: Đoàn đông, sinh hoạt rầm rộ chưa phải là lý tưởng. Vì thế, nếu không duy trì tinh thần đạo đức, sẽ rất mau tan, vì tâm lý trẻ em hay thay đổi.

  1. Trò chơi : Cua bò ngược

Thi đua theo đội. Xếp hàng dọc, số lượng em ở các đội bằng nhau, vạch mức đến cách 5m. Ngồi xuống, 2 tay chống ngược ra sau, mặt đưa ra trước. Khi có hiệu còi, toàn đội bắt đầu bò, chỉ được bò bằng 2 tay và 2 chân. Đội nào đến đích trước và nhiều “cua” còn sống là thắng. Trong khi bò, “cua” nào bị ngồi bệt xuống đất là “chết” và ra khỏi hàng.

  1. Chuyên môn: Chữa bệnh bằng NƯỚC ĐÁ

Đi cắm trại, khí trời nóng bức, hay đang di chuyển dưới trời nắng mà được ly đá chanh là hết ý, nhưng đó là chuyện lỗi thời rồi vì ai cũng biết điều đó. Ngày nay, người ta còn cùng nước đá để chữa trị nhiều bệnh, giới y học gọi là “Hàn liệu pháp”.

  1. Trị đau nhức: Cơ bắp bị đau nhức vì mỏi mệt do tập thể dục hay làm việc nhiều, người ta lấy nước đá xoa bóp trên cơ bắp bị đau, cơn đau sẽ giảm một cách nhanh chóng. Nước đá còn hữu dụng trong chứng chuột rút và co cơ.
  2. Trị phỏng: Khi bị phỏng bạn dùng nước đá chườm lên, vết phỏng sẽ không bị phồng rộp, nó còn làm nạn nhân bớt đau rát, ngăn chặn được sự biến dạng các mạch máu. Nước đá còn giúp cho vết phỏng mau lên da non. Những vết phỏng nặng, cần phẫu thuật, có thể sơ cấp cứu bằng xà phòng kèm chung với nước đá để làm sạch vết thương. Sau đó ngâm hay đắp vết thương bằng nước đá và đưa đến bệnh viện.
  3. Trị viêm họng: Theo bác sĩ đại tá Sidney I.Brody, si quan hải quân Hoa Kỳ cho rằng: viêm họng có thể dùng nước đá để chườm lạnh cơ bắp cổ phía gáy. Vì theo ông, cơn đau viêm họng khởi phát từ một vùng nhạy cảm trên cơ cổ phía gáy. Ý kiến này cũng dược bác sĩ Janet Travell, từng là bác sĩ riêng của cố tổng thống Kenedy ủng hộ.
  4. Trị chảy máu cam – nhức đầu: Đắp khăn ướp đá lạnh hoặc chườm trán bằng nước đá, máu cam sẽ ngưng chảy và hết nhức đầu. Ngoài ra khi bị côn trùng đốt, dùng nước đá đắp lên chỗ bị đốt rất hiệu nghiệm: làm giảm đau và bớt sưng.

———————————————————————————————————————————————————

Bài 15

CÁC THƠ CỦA THÁNH PHAOLÔ

Thật vậy, thưa anh em, tôi xin nói cho anh em biết: Tin Mừng tôi loan báo không phải do loài người. Vì không có ai trong loài người đã truyền lại hay dạy tôi Tin Mừng ấy, nhưng là chính Đức Kitô đã mạc khải. Anh em hẳn nghe nói: tôi đã ăn ở thế nào trước kia trong đạo Do Thái, tôi đã quá hăng say bắt bớ và những muốn tiêu diệt Hội thánh của Thiên Chúa. Trong việc giữ đạo Do Thái, tôi đã vượt xa nhiều đồng bào cùng lứa tuổi với tôi; hơn ai hết, tôi đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha ông.

Nhưng Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. Người đã đoái thương mạc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại.                                                             (Gl 1,11-16)

  1. Bài học:

Phaolô con người nhiệt tình, hăng hái quả cảm, kiên gan trì chí, nhưng dễ động lòng trắc ẩn, sinh trưởng tại Tarsô, xứ Kilikia trong một gia đình Do Thái đạo dức thuộc chi tộc Benjamin, cũng là công dân La Mã. Lúc nhỏ Phaolô học với thầy Gamaliel, một biệt phái nổi tiếng ở Giêrusalem. Phaolô thuộc nhóm những người thù ghét các Kitô hữu. Ông lùng bắt họ không nương tay, đã chứng kiến và giữ áo cho những người ném đá Stéphano.

Biến cố ngã ngựa và gặp Đức Kitô trên đường Đamas đã biến đổi cuộc đời Phaolô, ông trở nên người môn đệ nhiệt thành của Chúa Kitô, Người mà trước đây ông đã thù ghét. Từ nay, ông hiến mình phục vụ Hội thánh và Tin Mừng.

Từ năm 45 đến năm 58, Thánh Phaolô thực hiện ba cuộc hành trình truyền giáo qua đảo Kyprô, tiểu á, Makêdonia và Hy Lạp; đến đâu ngài thiết lập hàng Giáo sĩ tại đó. Cuộc hành trình thứ tư về Roma với tư cách là một tù nhân. Những cuộc hành trình đầy khó khăn và nguy hiểm nhưng Phaolô vẫn hăng say, nhiệt thành loan báo Tin Mừng.

Ngoài những hành trình thăm viếng, giảng dạy, Thánh Phaolô đã nâng đỡ các giáo đoàn bằng thơ từ. Những thơ này không chỉ khích lệ, thăm hỏi các giáo đoàn mà còn họp thành một toàn bộ học thuyết Kitô giáo, được Hội thánh coi là những văn bản được linh hứng và là một phần của Thánh Kinh.

14 thơ Thánh Phaolô được chia làm ba loại:

– Thơ quan trọng: Galata, 1 và 2 Côrintô, Roma, 1 và 2 Thesalônica. Các thơ này đề cập đến: sự công chính hóa, việc Chúa tái lâm,…

– Thơ viết khi ở tù: Côlôsê, Philêmon, Êphêsô và Philipphê, bàn về Chúa Kitô trong vũ trụ và trong lịch sử.

– Thơ mục vụ: 1 và 2 Timôthêô, Titô, thơ Do Thái, nói lên mối bận tâm của Thánh Phaolô về các giáo đoàn đứng trước nguy cơ của lạc thuyết.

  1. Cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin cho chúng con đừng bao giờ quay lưng trước những lời mời gọi của Chúa, đừng bao giờ ngoảnh mặt đểtránh cái nhìn yêu thương Chúa dành cho từng người trong
chúng con, nhưng biết gắn bó với mọi ý muốn của Chúa để thực  hiện trong từng ngày cuộc đời chúng con.

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. Bạn biết gì về 3 cuộc hành trình tuyền giáo của Thánh Phaolô? Có những giáo đoàn nào đã được thành lập trong cuộc hành trình truyền giáo thứ hai?
  2. Đề tài chính mà những bức thơ quan trọng của Thánh Phaolô đề cập đến là vấn đề gì?
  3. Sinh hoạt:
  4. Phong trào: Ôn 10 điều luật Thiếu Nhi Thánh Thể
  5. Trò chơi: Thám tử tài hoa

Chọn ra 1 em làm thám tử và 1 em làm gián điệp.

Cho thám tử quan sát kỹ gián điệp từ đầu đến chân. Sau đó, dẫn thám tử ra chỗ khác, hay bịt mắt lại trong 1,2 phút. Trưởng bắt đầu thay đổi hình dáng gián điệp một chút. Vd: tháo bớt đồng hồ đeo tay (hay đeo vào nếu lúc đầu chưa có) – hoặc bỏ áo ra ngoài (nếu lúc đầu bỏ vào quần) – hay dắt 1 cây bút vào túi áo… Sau đó, đưa thám tử vào, cho quan sát lại, nếu tìm thấy điểm khác lúc đầu thì được thế làm gián điệp, và em đó ra làm thám tử. Có thể thi đua: cho đội này đoán đội kia.

  1. Chuyên môn: TRẬT KHỚP XƯƠNG

Khi một khúc xương bị lệch vị trí chuẩn của nó, ta gọi là sai khớp hay trật xương. Hai đầu xương được buộc chặt vào nhau bởi những sợi dây chằng bọc quanh cả khớp xương. Khi bị trật xương thì những dây chằng này cùng những bao bọc quanh khớp xương có thể bị đứt, rách nhiều hoặc ít. Trong trường hợp này, đầu xương có thể bị mẻ (bể) và các huyết quản, dây chằng, dây thần kinh, bắp thịt có thể bị téc hoặc bầm dập. Có hai chổ thường bị sai khớp nhất là: vai và ngón tay, còn các nơi khác như: cùi chỏ, đầu gối, háng, hàm dưới ít xảy ra hơn.

– Nguyên do của sự trật khớp là ngã té, va chạm hay sử dụng bắp thịt quá mạnh.

– Dấu hiệu: đau nhiều, khớp xương bị biến dạng. Nếu dò xét kỹ có thể thấy đầu khớp xương bị trật ra ngoài, chỗ ấy bị xưng lên rất mau. Thường không cử động được chỗ ấy và hay bị kích ngất.

– Cấp cứu: Đắp lạnh lên chỗ bị thương để đỡ đau, khỏi bị xưng và bầm tím. Nếu nạn nhân bị kích ngất phải điều trị kích ngất ngay.

* Nên để bác sĩ lấy lại các khớp xương bị sai lệch. Tuy nhiên, người cứu thương có thể chữa trị những vụ trật xương nhẹ như trật quai hàm, trật ngón tay, ngón chân.

* Nếu bị trật xương vai hoặc cùi chỏ nên dùng băng treo để treo tay lên.

* Trật xương háng rất nguy hiểm. Nếu phải dời nạn nhân đi, nên lấy gối hoặc mền lót dưới đầu gối chân bị thương. Không nên kéo chân bị thương mà chỉ đỡ bộ phận bị thương lên thôi.

* Trật xương hàm dưới: cho nạn nhân ngồi trên ghế, lấy băng vải cuốn nhiều vòng quanh hai ngón tay cái rồi đặt hai ngón tay ấy lên răng cấm phía trong cùng của hàm răng, các ngón khác bợ dưới cằm. Xong, ấn 2 ngón tay cái xuống trong lúc đó các ngón tay kia nâng cằm lên. Cẩn thận khi vào khớp 2 ngón tay cái bị hàm răng cắn lại. Sau khi sửa xong nên cột cằm nạn nhân lại bằng băng bốn đuôi cho đến khi nạn nhân há miệng bình thường không cảm thấy khó và đau.

* Trật xương ngón tay, ngón chân: dùng tay nắm chặt 2 đầu của ngón tay, chân bị trật, rồi kéo đầu ngón tay, chân nhè nhẹ theo chiều thẳng của các ngón tay, chân cho đến khi ngón tay, chân sai khớp trở về vị trí của nó. Nếu sau 2 lần kéo mà không trở lại bình thường thì không nên thử nữa, hãy nhờ bác sĩ điều trị.

. Riêng khớp ngón tay cái nếu bị trật, tuyệt đối không được chữa trị ngoài bác sĩ.

. Nếu khớp xương bị trật mà có vết thương loét miệng bên cạnh, ta băng vết thương lại và đưa đến bác sĩ.

 

 

 

———————————————————————————————————————————————————

Bài 16

CÁC THƠ CỦA THÁNH PHAOLÔ (tt)

Cũng như ông Abraham đã tin Thiên Chúa, và vì thế Thiên Chúa kể ông là người công chính. Vậy anh em nên biết rằng: những ai dựa và đức tin, những người ấy là con cái Abraham. Đàng khác, Kinh Thánh thấy trước rằng Thiên Chúa sẽ làm cho dân ngoại nên công chính nhờ đức tin, nên đã tiên báo cho ông Abraham Tin Mừng này: nhờ Ngươi muôn dân sẽ được chúc phúc. Như vậy, những kẻ dựa vào đức tin thì được chúc phúc làm một với ông Abraham, người có đức tin.

(Gl 3,6-9)

  1. Bài học:

– Thơ Roma: là thơ quan trọng bậc nhất trong các thơ của Thánh Phaolô, vì đề cập đến vấn đề công chính hóa do lòng tin vào Chúa Kitô (1-8). Ngài cũng soi sáng vấn đề: dân Do Thái được tuyển chọn và ưu đãi nhưng khi chương trình cứu độ đến lúc thành tựu thì họ lại không tin (9-11).

– 1 và 2 thơ Côrintô: Thánh Phaolô nhận được một số tin tức không hay về giáo đoàn: chia phe cánh, kiện tụng nhau nơi tòa án đời, vô luân và lạm dụng những buổi hội họp bẻ bánh. Ngài cũng trả lời một số thắc mắc về vấn đề khiết trinh và hôn nhân, ăn thịt cúng, ơn đoàn sủng,…

Trong thơ thứ hai, ngài nói về chức vụ Tông đồ: tuy nặng nề nhưng cao cả. Người Tông đồ ý thức mình yếu đuối cần có ơn Chúa giúp.

– Thơ Galata: một số người Kitô hữu gốc Do Thái quá khích… vẫn cố gắng dùng mọi cách để bắt tân tòng phải giữ luật Môisen. Thánh Phaolô đả phá điều đó bằng cách nói rõ tính chất và mục đích của luật, giá trị của đức tin và cuộc tử nạn của Đức Kitô. Đồng thời nói lên tính cách hình bóng của Cựu ước.

– Thơ Êphêsô: Thánh Hieronimo nói: “Không thơ nào của Thánh Phaolô bao hàm nhiều mầu nhiệm như thơ Êphêsô”. Chúa Kitô thu hồi vạn vật trong Người, mầu nhiệm Chúa Kitô, mầu nhiệm cứu chuộc. Hội thánh là hiền thê và nhiệm thể của Chúa Kitô. Tính phổ quát của ơn cứu độ. Hội thánh khử trừ tận tuyệt những tệ đoan của thế giới ngoại giáo, mời gọi thực hành lòng mến.

– Thơ Philipphê: Thánh Phaolô bày tỏ tâm sự với giáo hữu Philipphê: dù bị tù tội nhưng ngài vui sướng vì Chúa Kitô được rao giảng. Ngài đề phòng tín hữu khỏi mần chia rẽ, bất hòa. Khích lệ dân sống theo gương Đức Kitô.

– Thơ Côlôsê: trước những sai lạc đang đe dọa cộng đoàn: tìm sự thông biết ngoài mạc khải; kiêng cữ, tôn sùng lung tung. Thánh Phaolô đề cao quyền tối thượng tuyệt đối của Đức Kitô. Người là nguyên uỷ và cứu cánh của vạn vật. Người là trung gian duy nhất và phổ quát. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Người đã hòa giải muôn loài.

– 1 và 2 thơ Thesalonica: đây là một trong những văn phẩm đầu tiên của Tân ước và là công trình tập thể (Timôthêô và Silvano). Người Kitô hữu phải chuẩn bị, phải sống trong niềm hy vọng chờ Chúa đến vì ngày đó đã gần.

Thơ thứ hai ngài lưu ý: dù một cộng đoàn khai sinh trong hoan lạc, nó không thể lớn lên mà không gặp khó khăn, thử thách..đó phải chăng là quy luật của vương quốc Thiên Chúa.

– Các thơ mục vụ (2 thơ Timôthêô và Titô): nêu những chỉ dẫn cho vị có trách nhiệm trong một cộng đoàn Hội thánh và đả kích những vị thầy lạc đạo.

– Thơ Do Thái: một số cộng đoàn Kitô hữu gốc Do Thái bị cám dỗ muốn quay lại với tế tự và nghi lễ Do Thái. Thánh Phaolô nghiêm khắc trách họ quá non nớt về đức tin. Đức Kitô là tư tế tối cao hoàn hảo. Người phá đổ mọi rào cản để chúng ta có thể gặp gỡ Thiên Chúa. Tuy nhiên ta không thể sống sự kết hiệp với Thiên Chúa trong Đức Kitô một cách riêng lẻ nhưng phải cùng nhau tiến bước.

  1. Cầu nguyện:

Lạy Chúa, dân làng Nazareth đã không tin Chúa, vì Chúa chỉ là con bác thợ mộc. Các môn đệ đã khủng hoảng khi thấy Chúa chịu treo trên thập tự. Nhiều kẻ đã không tin Chúa là Thiên Chúa, vì thấy Chúa sống bình dị như một người thường. Xin thêm đức tin cho chúng con, cho chúng con nhận ra sự lớn lao của Chúa tỏ lộ trong cái bình thường giữa lòng cuộc sống chúng con hôm nay.

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. Trong hai thơ gởi tín hữu Côrintô, Thánh Phaolô giải quyết những vấn đề gì ?
  2. Trong thơ gởi tín hữu Côlôsê, Thánh Phaolô đề cao những gì về Đức Kitô ?
  3. Sinh hoạt:
  4. Phong trào: Thiếu nhi tôn sùng THÁNH THỂ,

            Siêng năng chịu lễ, viếng Chúa hằng ngày.

Cao điểm của ngày Thánh Thể là giờ phút tâm tình thờ lạy trước Thánh Thể, thời gian dài ngắn không đáng kể nhưng cố gắng thường xuyên đến và tâm sự với Chúa.

Biểu lộ tình hiệp thông khi cùng nhau quây quần bên Chúa Thánh Thể, từ đó gia tăng lòng mến Chúa và tình bác ái.

  1. Trò chơi : Thấy trước làm sau

Tập họp vòng tròn, trưởng bắt bài hát vui, làm 1 động tác đầu, các em chú ý nhìn. Khi trưởng đổi động tác thứ hai, lúc này, tất cả các em mới làm chung động tác thứ nhất, và để ý trưởng làm động tác mới. Khi trưởng đổi sang động tác thứ ba thì các em làm động tác thứ hai của trưởng. Em nào làm giống trưởng cùng lúc thì bị loại vì sai luật.

  1. Chuyên môn : Gẫy xương

Khái niệm: Gẫy xương, xương có thể rạn nứt hay gẫy đôi, ta phân biệt xương gẫy làm hai loại:

  1. Gẫy kín: xương bị gẫy nhưng không có vết thương bên ngoài, chỗ bị gẫy xưng lên.
  2. Gẫy hở: xương bị gẫy và có vết thương ngoài da. Vết thương này có thể do vật ở ngoài làm thành hoặc do chính đầu xương bị gẫy, xé thịt da mà lộ ra ngoài.

Khi cấp cứu người bị gẫy xương, ta phải biết nạn nhân bị gẫy xương hở hay xương kín. Nếu bị gẫy xương hở, ta phải tìm cách cầm máu cho nạn nhân. Sau đó thực hiện tiếp như gẫy xương kín. Người cứu thương khi phát hiện nạn nhân bị gẫy xương ở bất cứ trường hợp nào cũng phải thực hiện làm nẹp cho nạn nhân.

  1. Mục đích:
  2. Hạn chế sự di lệch của phần xương gẫy.
  3. Tránh tổn thương đến mạch máu, dây thần kinh, xương, phần mềm nơi gẫy và nhất là tránh gây gẫy kín thành gẫy hở.
  4. Làm giảm sự đau đớn cho nạn nhân.
  5. Đề phòng sốc khi di chuyển.

Lưu ý: nếu bị gẫy hở, người cứu thương không được tìm cách đưa xương vào.

  1. Dụng cụ cấp cứu gẫy xương:

– Nẹp: tùy theo phương tiện sẵn có, người cứu thương có thể biến chế từ gỗ, ván, tre, giấy báo, bìa cứng thành những nẹp thích hợp với từng nơi gẫy.

– Băng: tam giác, băng cuộn, vuông,.

– Kim băng.

– Băng không thấm nước hoặc vải cũ để chêm độn phần xương gẫy.

 

 

 

 

 

———————————————————————————————————————————————————

Bài 17

CÁC THƠ CHUNG

Tôi là Phêrô, tông đồ của Đức Kitô, kính gởi những người được Thiên Chúa kén chọn, những khách lữ hành… những người được Thiên Chúa Cha biết trước và kén chọn, những người được thần khí thánh hóa để vâng phục Đức Giêsu Kitô và được máu Người tưới rảy. Chúc anh em được đầy tràn ân sủng và bình an…

Anh em sẽ được hân hoan vui mừng mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. Nhưng thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội, vàng là của phù vân mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi Đức Kitô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời ngợi khen, và đem lại vinh quang, danh dự.              (1Pr 1,1-2.6-7)

  1. Bài học:

7 thơ chung gồm: Thơ Thánh Giacôbê, 2 thơ Thánh Phêrô, 3 thơ Thánh Gioan,
Thơ Giuda.
Được gọi là “thơ chung” vì tính cách chung và phổ cập của những thơ ấy, nghĩa là không viết riêng cho một cá nhân hay một cộng đoàn nào mà viết chung cho các Kitô hữu gốc Do Thái sống rải rác ở những miền phụ cận Palestine như Ai Cập, Syri.

– Thơ Thánh Giacôbê: nhấn mạnh vào việc nhận biết và thi hành ý Thiên Chúa. Ngài đòi hỏi tri hành luôn phải đi đôi, phải khử trừ mọi thứ nhị tâm, đừng bao giờ nghĩ rằng có thể làm tôi Thiên Chúa mà lòng lại hướng chiều theo thế gian.

– Hai thơ Thánh Phêrô: viết cho Giáo hội tiểu á đang bị bách hại để uỷ lạo và khích lệ họ bền đỗ trong đức tin, can đảm chấp nhận gian khổ theo gương Chúa Kitô.

Thơ thứ hai, với những giáo đoàn phải đối đầu với các lạc thuyết, Thánh Phêrô khẳng định: các tín hữu được lời Chúa dạy dỗ qua các ngôn sứ và tông đồ. Chúa sẽ quang lâm, Chúa chậm đến là để người tội lỗi có cơ hội thống hối.

– Ba thơ Thánh Gioan: có một vài tiến sĩ giả hình tìm cách gieo rắc những học thuyết sai lầm, gây xáo trộn trong cộng đoàn. Họ chủ trương: không nhìn nhận Đức Kitô là Đấng Messia, là Con Thiên Chúa. Họ chối mầu nhiệm nhập thể… Thơ Thánh Gioan không chỉ nhằm chống lại những người lạc giáo ấy nhưng còn nhằm giúp các tín hữu đề phòng thuyết ngộ đạo, đồng thời cho thấy người tín hữu thực thụ là những người trung thành với đức tin chân chính của Kitô giáo, tuân giữ các điều răn, nhất là luật bác ái.

– Thơ Thánh Giuda: (đây không phải là Giuda Iscariot, kẻ phản bội) Thơ được viết nhằm cảnh cáo một nhóm tín hữu, giúp họ đề phòng những lạc giáo đã xâm nhập vào cộng đoàn. Lạc giáo đây là ngộ đạo thuyết theo chiều hướng phóng túng về luân lý: Nếu không sám hối, canh tân thì sẽ có phần phạt tương xứng.

  1. Cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin dạy con biết theo Chúa vô điều kiện và xác tín rằng: Chúa ngàn lần khôn ngoan hơn con, ngàn lần quảng đại hơn con, và yêu con hơn cả chính con yêu con.

Xin cho con cảm nghiệm được niềm vui bất diệt của người một lòng muốn theo Chúa. Xin cho con dám hành động theo những đòi hỏi khắt khe nhất của Tin Mừng Chúa.

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. Bạn cho biết: 2 thơ của Thánh Phêrô có phải cùng một tác giả không ? Và mỗi thơ khảo sát vấn đề gì ?
  2. Thánh Giuda đã cho biết lý do gì mà ngài viết lá thờ này ?
  3. Sinh hoạt
  4. Trò chơi: ”Làm theo lời tôi”

Cho các em đứng vòng tròn. Trưởng sẽ hô một câu lệnh, nhưng lại làm cử chỉ khác. Các em phải làm theo lệnh của trưởng, chứ không làm theo cử điệu. Vd: Trưởng hô: “Gãi tai” – nhưng lại gãi đầu. Nếu em nào gãi đầu theo trưởng thì bị loại, ngồi xuống. Thử chơi đến em cuối, xem tài em nào phán đoán nhanh.

  1. Chuyên môn: GẪY XƯƠNG CÁNH TAY
  2. Dùng nẹp:
  3. Cánh tay để sát thân mình, cẳng tay thẳng góc với cánh tay.
  4. Dùng 2 nẹp: nẹp trong từ hố nách đến khuỷu tay, nẹp ngoài từ vai đến khớp khuỷu. (Có thể dùng nẹp kẽm bẻ thành góc 900 đỡ cả cánh tay và cẳng tay. Băng lại).
  5. Dùng 2 dây rộng bản buộc cố định nẹp: một tở trên, một ở dưới.
  6. Dùng khăn tam giác đỡ cẳng tay treo trước ngực (bàn tay cao hơn khuỷu tay).
  7. Dùng 2 băng cà-vạt buộc cánh tay vào thân mình, cột gút phía trước nách lành.
  8. Dùng khăn tam giác:
  9. Cánh tay để sát thân mình, cẳng tay thẳng góc với cánh tay, bàn tay cao hơn khuỷu tay. (Bảo nạn nhân dùng tay lành đỡ tay đau).
  10. Lòn khăn tam giác dưới tay đau, đáy khăn dọc theo thân người, đỉnh của khăn nơi khuỷu tay, buộc 2 chéo khăn qua cổ phía bên vai lành.
  11. Xếp đỉnh tam giác lại cho gọn và chặt, ghim đỉnh tam giác vào phần vải nơi khuỷu tay.
  12. Dùng khăn tam giác thứ hai buộc cánh tay đau sát vào thân mình.

 

 

 

 

 

———————————————————————————————————————————————————

Bài 18

KHẢI HUYỀN

Rồi có điềm lớn xuất hiện trên trời: một người phụ nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng và đầu đội triều thiên 12 ngôi sao. Bà có thai, đang kêu la đau đớn và quằn quại vì sắp sinh con. Lại có điềm lạ khác xuất hiện trên trời: đó là một con Mãng Xà, đỏ như lửa, có 7 đầu và 10 sừng, trên 7 đầu đều có vương miện. Đuôi nó quét hết một phần ba các ngôi sao trên trời mà quẳng xuống đất. Rồi con Mãng Xà đứng chực sẵn trước mặt người Phụ Nữ sắp sinh con, để khi Bà sinh xong là nó nuốt ngay con Bà. Bà đã sinh một người con, một người con trai, người con này sẽ dùng trượng sắt mà chăn dắt muôn dân. Con Bà được đưa ngay lên Thiên Chúa, lên tận ngai của Người. Còn người Phụ Nữ thì trốn vào sa mạc; tại đó Thiên Chúa đã dọn sẵn cho Bà một chỗ, để Bà được nuôi dưỡng ở đó trong vòng một ngàn hai trăm sáu mươi ngày.                                                    (Kh 12,1-6)

  1. Bài học:

– Khải huyền là loại văn thịnh hành giữa người Do Thái vào cuối thời Cựu ước. Loại văn này diễn tả tư tưởng bằng cách nêu lên những thị kiến, trong đó mỗi nét đều có ngụ ý một điều gì. Vì thế, chúng ta đừng dừng lại ở những hình ảnh nhưng hãy đi sâu vào ý nghĩa của chúng.

– Ngôn ngữ ám hiệu: các sách Khải huyền sử dụng cả một quy tắc về hình ảnh:

+ Màu sắc :          trắng      (sự chiến thắng, sự trong sạch)

đỏ          (sự giết chóc, bạo lực, máu các vị tử đạo)

đen        (sự chết, sự vô đạo)

+ Con số :  . 12 (Israel cũ và mới)

. 7 (số hoàn hảo, toàn vẹn nên số 6 = 7 – 1 là bất toàn)

. 3,5 = 7 : 2 (sự bất toàn, đau khổ, thời gian thử thách và bách hại). Nói 3,5 hay “một thời, những thời và nửa thời”, 3 năm rưỡi, 3 ngày rưỡi, 42 tháng hay 1260 cũng vậy.

. 4 (thế giới thụ tạo: có lẽ là 4 phương hướng của thế giới)

. 1000 (một số lượng rất lớn)

. 144.000 (12x12x1000)

+ Những hình ảnh cổ truyền:

. cái sừng: sức mạnh

. tóc bạc: sự vĩnh cửu, trường tồn (không chỉ tuổi già)

. áo dài: thường chỉ về phẩm chức tư tế

. đai lưng bằng vàng: vương quyền

– Sách Khải huyền do Thánh Gioan tông đồ viết vào cuối thế kỷ I cho Giáo hội ở tiểu á đang lâm cơn thử thách. Thánh Gioan muốn giữ lòng can đảm của các Kitô hữu. Ngài cho họ một sứ điệp hy vọng: “Đức Kitô sẽ đến gấp”. Trong một ngôn ngữ gợi hình, Gioan đã chứng tỏ cho họ thấy rằng chiến thắng đã đạt được phần cốt yếu nhưng phải tiếp tục cuộc chiến thắng cho tới ngày cuối cùng (mặc dù mọi người đã được Chúa Kitô cứu độ nhưng mỗi người phải gắng sức đi đến chiến thắng cuối cùng). Hội thánh vẫn luôn bị bách hại và phải chiến đấu.

  1. Cầu nguyện:

Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã ban cho chúng con ơn nhận biết và tin vào Chúa Giêsu, Con Chúa; và được lớn lên trong lòng Hội thánh. Chúa muốn chúng con là men, là muối, là ánh sáng cho trần gian. Xin cho chúng con biết sống chan hòa với anh em, để biến đổi môi trường chúng con sống, và giới thiệu gương mặt Chúa Giêsu cho những người đang thao thức kiếm tìm.

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. Hãy tìm hiểu và cắt nghĩa đoạn văn sau: 1,9-20; 4,1-11; 5, 1-14; 6,1-17; 12,1-18.
  2. Sách Khải huyền có giúp chúng ta giải đáp vấn nạn:“bao giờ tận thế”?
  3. Sinh hoạt:
  4. Trò chơi: “Tôi bảo”

Trưởng chỉ huy, cho các em đứng vòng tròn. Nếu lúc nào trưởng hô: “Tôi bảo…” thì các em mới thi hành. Vd: “Tôi bảo chạy bên trái”. Tất cả chạy, rồi hô: “Đứng lại” ; Các em không được dừng lại, cứ tiếp tục chạy, vì không có câu: “Tôi bảo”.

Trưởng phải thay đổi lệnh liên tục để cuộc chơi hào hứng.

  1. Chuyên môn: GẪY XƯƠNG CẲNG TAY
  2. Cẳng tay để sát thân mình, thẳng góc với cánh tay, lỏng bàn tay úp vào trong.
  3. Dùng 2 nẹp : nẹp trong từ lòng bàn tay đến nếp khuỷu, nẹp ngoài từ các ngón tay đến sau u khuỷu. (Có thể thay bằng nẹp kẽm).
  4. Dùng 3 dây rộng bản buộc cố định nẹp: bàn tay, thân cẳng tay, gần khuỷu tay.
  5. Dùng khăn tam giác đỡ cẳng tay treo truớc ngực. (Bàn tay cao hơn khuỷu tay).

 

 

                                            GẪY XƯƠNG CỔ TAY, BÀN TAY

Làm giống như gẫy xương cẳng tay nhưng bàn tay úp xuống.

———————————————————————————————————————————————————

Bài 19

VÀI LỜI KHUYÊN GIÚP ĐỌC THÁNH KINH

Đức Giêsu đến Nazareth, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày Sabat và đứng lên đọc Sách Thánh. Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ Isaia. Người mở ra, gặp đoạn chép: “Thần khí Chúa ngự trên tôi. Vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho người nghèo. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa”.

Đức Giêsu cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Người bắt đầu nói với họ: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”. Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người.                               (Lc 4,16-22)

  1. Bài học:

Cần phải có một số thái độ trước khi bắt đầu đọc Kinh Thánh, vì chính những thái độ này sẽ giúp ta khám phá ra điều Kinh Thánh muốn nói với chúng ta.

  1. Trước khi đọc :
  2. Cần có một khoảng thời gian ngắn, thinh lặng hoặc cầu

nguyện: xin Chúa soi trí mở lòng để ta biết sẵn sàng nghe và đón nhận Lời Thiên Chúa.

  1. Cần đọc thong thả chứ không vội vàng. Kinh Thánh không phải là một cuốn tiểu thuyết, một tạp chí, nhưng là một bản văn rất quan trọng có liên hệ đến chúng ta. Phải sẵn sàng dành thời giờ để đọc, đọc đi đọc lại, để có thể nắm được sứ điệp Kinh Thánh muốn ngỏ với chúng ta.
  2. Đọc bản văn trong bối cảnh bản văn được viết ra

Khi đọc một bản văn Kinh Thánh, trước hết chúng ta luôn phải đặt câu hỏi: các độc giả đầu tiên đọc bản văn này đã hiểu như thế nào? Ta thường có khuynh hướng kéo bản văn vào hoàn cảnh hiện tại ta đang sống. Như thế là ta dồn những lo toan ta hiện có vào bản văn, và do đó ta sẽ có khuynh hướng luân lý hóa, chỉ nhằm đến khía cạnh răn dạy mà thôi.

Vậy câu hỏi hướng dẫn chúng ta khi đọc Kinh Thánh là:”Bản văn muốn nói đến kinh nghiệm nào của đức tin?” Đây chính là điều chúng ta tìm kiếm khi đọc Kinh Thánh: chúng ta tìm một kinh nghiệm về đức tin có thể giúp chúng ta hiểu và mở rộng kinh nghiệm về đức tin của chúng ta trong bối cảnh mới. Có thể dùng phương thế đơn giản để tìm bối cảnh của bản văn:

  1. Tìm hiểu những thói quen, những tập tục của thời bấy giờ; xem bản đồ; tìm bối cảnh lịch sử của bản văn khi được viết ra, nhờ đọc các dẫn nhập, chú thích…
  2. Ghi nhận sự kiện này là: trong Kinh Thánh có những cách diễn tả, cách viết khác với cách diễn tả, cách viết của chúng ta ngày nay (ví dụ: các dụ ngôn, phép lạ, lời tuyên xưng đức tin…).

Cần nhớ rằng Kinh Thánh là lời Thiên Chúa nhập thể vào ngôn ngữ nhân loại. Vì thế cần phân biệt sứ điệp luôn luôn tồn tại với những gì thuộc về môi trường văn hóa cụ thể mà bản văn đã ra đời (ví dụ : các cuộc chém giết, bạo lực, phân biệt nam nữ…). Chính sứ điệp và cuộc đời của Đức Giêsu là những tiêu chuẩn tuyệt vời giúp phân biệt như trên, bởi vì Đức Giêsu là trung tâm và là chìa khóa giúp hiểu toàn thể Kinh Thánh.

  1. Đọc và áp dụng vào cuộc sống

Sau khi đã đọc bản văn Kinh Thánh như thế, chúng ta cần để cho sứ điệp của bản văn dọi vào cuộc sống chúng ta và chất vấn chúng ta. Chúng ta đừng đọc Kinh Thánh chỉ để làm giàu kiến thức hoặc vì thỏa mãn tính hiếu kỳ; nhưng phải tin rằng Thiên Chúa đã để lại trong Kinh Thánh những chỉ dẫn căn bản để hướng dẫn chúng ta biết cách sống: chúng ta có những lời nói và gương sáng cuộc đời của Đức Giêsu, chúng ta có lịch sử dân được Thiên Chúa tuyển chọn với những bậc hiền nhân và các ngôn sứ… nhưng tất cả những điều đó phải được diễn giải cho ngày hôm nay, trong cuộc sống cụ thể. Vì thế, chúng ta phải tập cho quen đừng bao giờ đọc bản văn mà không hỏi xem bản văn có liên hệ thế nào với chúng ta. Điều này giả thiết:

  1. Phải ý thức rõ những gì đang diễn ra chung quanh chúng ta; phải chú ý đến cuộc sống, đến những gì đang xảy ra cho chúng ta và cho những người chung quanh chúng ta, chú ý đến những dấu chỉ của mỗi thời đại.
  2. Phải để cho sứ diệp chúng ta đã khám phá thấy trong bản văn nói với chúng ta một cách tự do, nên như mưa rào làm cho đất phi nhiêu.
  3. Phải sẵn sàng để cho những gì chúng ta khám phá thấy chất vấn chúng ta.
  4. Cầu nguyện:

Lạy Chúa, Chúa đã ban cho chúng con trí tuệ, quả tim và đôi tay để góp phần xây dựng một thế giới ấm no và chan chứa tình người. Xin cho chúng con biết say mê học tập, nỗ lực nghiên cứu đồng thời biết biến các tri thức khoa học thành lời tôn vinh Chúa và thành phương tiện phục vụ con người.

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. Chia sẻ lời Chúa và học hỏi Lời Chúa có giống nhau không?
  2. Để nắm đước sứ điệp của Kinh Thánh muốn ngỏ với ta. Tại sao ta phải đọc đi đọc lại kỹ lưỡng một đoạn lời Chúa ?
  3. Sinh hoạt:
  4. Trò chơi : “Sáng tác”

– Vật liệu: mỗi đội 1 tờ giấy trắng dài, 1 cây bút.

– Cách chơi: cho các em xếp thành hàng dọc. Em đầu tiên bí mật không cho đội khác biết, vẽ 1 hình lên giấy. Rồi truyền cho em thứ hai; em này coi xong, gấp lại và viết tiếp 1 câu ngắn diễn tả hình vẽ đó, rồi truyền cho em thứ 3 ; em này vẽ 1 hình thích hợp với câu mình đọc được, rồi gấp hình lại chuyền cho em kế tiếp cho đến em cuối. Cứ một em viết, một em vẽ.

– Kết quả: đội nào hình cuối giống hình vẽ đầu tiên là thắng.

  1. Chuyên môn : GẪY XƯƠNG MŨI

Xương mũi đuợc cấu thành bởi những mô xương xốp. Khi bị va chạm mạnh, bị té, bị đập,… xương mũi rất dễ gẫy. Khi xương mũi gẫy rất dễ nhận thấy : sống mũi sẽ bị lệch so với khuôn mặt.

Cũng như các loại gẫy xương khác, nạn nhân cảm thấy đau đớn, chỗ xương gẫy sẽ sưng lên, biến dạng và chảy máu.

– Cấp cứu : Đặt nạn nhân nằm thẳng, đầu hơi thấp so với thân mình. Dùng băng bốn đuôi để băng, sau đó đưa đến bác sĩ. Không được sửa xương gẫy vào vị trí vì chỉ có bác sĩ chuyên môn mới làm được. Phải thật thận trọng, vì không khéo có thể làm mũi nạn nhân biến dạng vĩnh viễn.

– Băng bốn đuôi : kiểu băng này được đặt tên theo hình dáng của nó. Khi tréo đuôi các băng lại với nhau, phần giữa băng trở thành một túi nhỏ rất tiện để băng những bộ phận nhô ra như mũi, cằm,…

– Cách làm băng: dùng miếng vải dài cỡ 8-9 tấc, khổ rộng từ 7-20cm, cắt lần vào từ hai đầu băng, chừa phần chính giữa đủ rộng tùy trường hợp và chỗ bị thương. Có thể dùng vải thưa để làm băng bốn đuôi, nhưng vải dầy vẫn tốt hơn.

Sau khi đắp miếng băng compresse có kẹp bông lên vết thương, ta đặt băng bốn đuôi lên, kéo hai đuôi trên xuống, hai đuôi dưới lên, vòng ra sau đầu và cột lại bằng nút dẹt.

 

———————————————————————————————————————————————————

Bài 20

VÀI LỜI KHUYÊN GIÚP ĐỌC KINH THÁNH (tt)

 

Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tủy; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người. Vì không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi phơi bày trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ.

(Dt 4,12-13)

  1. Bài học:
  2. Đọc với thái độ cầu nguyện

Phải đọc Kinh Thánh với chính tinh thần mà người viết đã viết ra. Thiên Chúa nói với chúng ta qua Kinh Thánh. Muốn nghe được lời Thiên Chúa trong Kinh Thánh, chúng ta phải có tinh thần phù hợp. Như thế nghĩa là chúng ta phải đọc Kinh Thánh trong bầu khí cầu nguyện. Do đó:

  1. Phải chân thành mở rộng tâm hồn để hiểu điều Thiên Chúa đang nói với chúng ta qua Lời của Người được ghi chép trong Sách Thánh.
  2. Phải đáp lại Thiên Chúa với tâm tình cầu khẩn, tạ ơn, suy niệm… như thế để tiếp tục theo đuổi cuộc đối thoại Thiên Chúa đã mở ra. Vì chúng ta lắng nghe Thiên Chúa khi chúng ta đọc lời của Người, và chúng ta trò chuyện với Người, khi chúng ta dâng lên Người lời cầu nguyện.
  3. Đọc chung, đọc trong cộng đoàn

Việc đọc riêng được bổ túc bằng việc đọc chung, đọc trong cộng đoàn. Điều này không thể bỏ qua. Công đồng Vaticano II (Hiến chế Phụng vụ, số 26-32) đã giúp chúng ta khám phá ra những giá trị của cộng đoàn và điều này cũng có liên quan đến việc đọc Kinh Thánh: giải thích Kinh Thánh không phải chỉ là công việc riêng tư, cá nhân, nhưng có tính cách cộng đoàn. Cộng đoàn Kitô hữu là độc giả, là người nhận Lời này. Chính vì thế, việc đọc chung, đọc trong gia đình, đọc trong cộng đoàn là cách đọc giúp ta mở rộng lòng hơn nữa để am hiểu sứ điệp Thiên Chúa dành cho chúng ta ngày hôm nay. Khi đọc chung, đọc trong cộng đoàn, các đặc sủng và những độ nhạy bén khác nhau cần được lắng nghe để khám phá trọn vẹn hơn sứ điệp chứa đựng trong Lời Thiên Chúa. Những đóng góp đa dạng vốn nằm sâu trong những kinh nghiệm sống, giúp ích nhiều để hiểu kho tàng phong phú của Kinh Thánh hơn là khi đọc một mình. Đọc Kinh Thánh trong phụng vụ là cách đọc chung, đọc trong cộng đoàn có giá trị cao nhất và có ý nghĩa lớn nhất.

  1. Đọc và dấn thân hành động

Đọc Kinh Thánh không chỉ là tập suy nghĩ hoặc tìm vẻ đẹp văn chương. Kinh Thánh nhằm tới cuộc sống. Khi chúng ta cầm Sách Thánh và đọc, chúng ta mang lấy gánh nặng của chúng ta và của những người khác. Việc khám phá ra sứ điệp giúp chúng ta ý thức rằng Thiên Chúa vẫn đề ra cho chúng ta lựa chọn con đường sống, mở ra cho chúng ta con đường hoán cải. Từ chối đi theo con đường này hoặc không đón nhận những lời mời gọi dấn thân sẽ dẫn đến chỗ cắt đứt cuộc đối thoại với Thiên Chúa. Cách chung, khi đọc Kinh Thánh mà không đi tới chỗ dấn thân, chúng ta sẽ khó hiểu chúng ta đọc gì và tại sao chúng ta đọc.

  1. Cầu nguyện:

Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã cho chúng con được sống trong một nhóm bạn đầy nhiệt huyết, cùng chung một lý tưởng cao đẹp là phục vụ Giáo hội và quê hương. Xin giúp chúng con biết chăm chỉ học tập và rèn luyện tư cách để trở nên những người trưởng thành về đức hạnh và kiến thức, hầu có thể tự tin xây dựng cuộc đời với Chúa và với anh em.

III. Câu hỏi thảo luận:

  1. Thế nào là đọc lời Chúa với thái độ cầu nguyện?
  2. “Việc đọc lời Chúa riêng được bổ túc bằng việc đọc chung”. Bạn hiểu điều này thế nào? Thế nào là đọc chung?
  3. Sinh hoạt:
  4. Phong trào: NỘI QUY TỔNG LIÊN ĐOÀN

Tổng Liên Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam hướng dẫn các đoàn sinh với tình con thảo yêu mến và tôn sùng Đức Maria, Mẹ Chúa Cứu Thế để nhờ Người mà đón nhận Chúa và đem Chúa vào đời như Người đã thực hiện cách tuyệt hảo. (Điều 6)

Tổng Liên Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam chủ trương đào tạo nơi giới trẻ tinh thần giáo hội bằng cách mến yêu, vâng phục vị đại diện Chúa Kitô, đầu nhiệm thể là Đức Thánh Cha, Thủ lãnh của Phong Trào và thực hiện những ý chỉ hàng tháng của Ngài. (Điều 7)

  1. Trò chơi : Những cơn lốc xoáy

– Dụng cụ : mỗi đội 1 sợi dây thừng 3m.

– Chia các em thành từng tốp (đội) bằng nhau. Cho em đầu của mỗi đội đứng cách xa 3m, tay nắm một đầu dây thừng. Em thứ hai nắm đầu còn lại. Khi có còi lệnh, em thứ hai mỗi đội quấn dây thừng vào quanh mình cho đến khi chạm được em thứ nhất, rồi trở mình lại, về chỗ cũ, bắt tay em thứ ba. Em đó tiếp tục quấn dây quanh mình lên chạm em thứ nhất. rồi lại trở về bắt tay em kế tiếp… Cứ vậy, đối nào xong trước là thắng cuộc.

  1. Chuyên môn:

Học đến đây là tạm hết những nét khái quát trong chương trình chuyên môn của Nghĩa sĩ, nhưng các em nhớ rằng: “Văn ôn, võ luyện’. Chuyên môn cũng đòi hỏi phải luôn thực tập ôn luyện, đừng tự mãn cho rằng mình học rồi, đã biết rồi là đủ, là xong. Trong chuyên môn không thể nói chữ đủ, mà cần phải cố gắng trau dồi, tìm kiếm và phát triển thêm những điều mới, tất cả những kiến thức, chuyên môn, những mẹo vặt, những kỹ năng nhỏ sẽ giúp em thành Nghĩa sĩ giỏi, có khả năng tháo vát, phản ứng nhanh nhậy và chính xác.

———————————————————————————————————————————————————

NGHI THỨC BAO ĐỒNG

(Cử hành sau bài giảng trong Thánh Lễ trọng thể kết thúc)

* Hướng dẫn : (Trong khi đọc lời hướng dẫn các em tiến lên Cung thánh, xếp hàng theo thứ tự đã được chỉ định)

 

Thời gian năm tháng đã dẫn các em vào đời. Càng khôn lớn các em càng có những trách nhiệm lớn hơn. Những ngày tháng sắp tới, các em sẽ có dịp sống Đức tin của mình cách đặc biệt hơn, với hành trang Lời Chúa các em đã thâu nhập được ở các lớp giáo lý trong những năm qua. Hôm nay các em đến để dâng mình cho Chúa và nhận lấy sứ mệnh truyền giáo. Các em vào đời để làm chứng nhân cho tình yêu Chúa với tất cả nhiệt tâm của mình.

Trong ngày lãnh nhận Bí tích Rửa tội và Thêm sức, Chúa đã trao cho các em sứ mệnh truyền giáo: “Hãy đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân” (Mc16,15). Chúa không cho chúng ta sẵn một thời khóa biểu, không vạch sẵn kế hoạch để ta thi hành… Chúa để cho các em sáng kiến, tự do thực hiện sứ mệnh truyền giáo giữa đời:

. Abraham đã ra đi vì hy vọng đến Đất Hứa;

. Môsê đã ra đi vì hy vọng cứu dân khỏi nô lệ;

. Chúa Giêsu đã ra đi từ trời để cứu rỗi nhân loại;

. Các Đạo sĩ đã ra đi vì hy vọng gặp Vua Israel;

. Phanxicô Xaviê đã ra đi vì sứ mệnh cứu rỗi các linh hồn…

Hôm nay, các em khởi sự lên đường vào đời với sứ mệnh cao cả: làm chứng nhân cho Chúa, và hy vọng đem mọi người về với Chúa. Các em hãy nhớ rằng kết quả ra sao là tùy ở đời sống cầu nguyện và nỗ lực cộng tác với ơn Thánh Chúa của các em. Chúng ta cầu nguyện để các em được hiên ngang tiến bước.

+ Chủ tế           : Chúng con thân mến, trước khi bước sang giai đoạn mới của cuộc đời, chúng con đến đây để làm gì?

– Các em           : Thưa Cha, chúng con muốn bưóc vào đời với niềm tin nơi Chúa, trong tinh thần dấn thân, phục vụ.

+ Chủ tế           : Để dấn thân phục vụ chúng con phải được niềm tin soi dẫn. Chúng con hãy hãnh diện tuyên xưng đức tin.

– Các em           : (bản kinh Tin Kính)

+ Chủ tế           : Nếu chúng con đã có ý nguyện dấn thân phục vụ Chúa, chúng con hãy nói lên lời quyết tâm đó.

– Các em           : (quỳ gối, giơ tay phải ra trước, tay trái cầm giấy và đọc)

Lạy Chúa,/dựa vào tình thương của Chúa Cha,/dựa vào lời ban sự sống,/cùng lương thực thiêng liêng là Mình Máu Thánh Chúa Kitô,/và sức mạnh của Chúa Thánh Thần,/chúng con mạnh dạn vào đời và tin tưởng ở tương lai. Chúng con xin hứa với Chúa:

1) Không ngừng sửa đổi cách sống bản thân để ngày càng nên hoàn thiện hơn.

2) Góp phần vào việc truyền giáo xây dựng cộng đoàn dân Chúa trong Hội Thánh Việt Nam, sao cho phù hợp với Tin Mừng, bằng cách:

– Chuyên cần cầu nguyện, lắng nghe, suy niệm và sống Lời Chúa.

– Sống đức tin bằng việc năng lãnh nhận các Bí tích nhất là Bí tích Thánh Thể, luôn làm việc vì lòng mến Chúa và yêu thương mọi người.

– Can đảm tuyên xưng đức tin trong mọi hoàn cảnh  sống và rao truyền Tin Mừng Chúa Kitô.

Cúi xin Mẹ Maria,/ Mẹ các thanh thiếu niên,/ là mẫu gương tuyệt vời trong việc sống đạo,/nâng đỡ sự yếu hèn của chúng con/ và giúp chúng con thực hiện quyết tâm.

+ Chủ tế           : Tạ ơn Chúa, xin Thiên Chúa là Cha, và Con và Thánh Thần nhận lấy những ước nguyện tốt đẹp và lời hứa chân thành của chúng con, cùng ban cho chúng con muôn phúc lành của Người.

– Các em           : Amen.

+ Chủ tế           : Chúng ta dâng lời cầu nguyện,

Lạy Chúa, Chúa muốn cho hết thảy mọi người được ơn nhận biết Chúa và gia nhập dân Chúa. Xin đưa mắt nhìn cánh đồng truyền giáo bát ngát bao la và gửi nhiều thợ lành nghề đến cánh đồng của Chúa. Xin Chúa chúc lành cho các bạn trẻ sắp bước vào đời. Xin ban cho các em một lòng nhiệt thành yêu mến Chúa và yêu mến các linh hồn. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

– Các em           : Amen.

* Cộng đoàn hát : Đường đi có Chúa…

(Các em thứ tự tiến lên trước Cha chủ tế hôn kính Sách Thánh và trở về chỗ. Thánh lễ tiếp tục qua phần dâng lễ vật)

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *